Hiển thị các bài đăng có nhãn MÁY THỔI KHÍ AO TÔMMÁY THỔI KHÍ NUÔI CÁMÁY THỔI KHÍ NUÔI TÔM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn MÁY THỔI KHÍ AO TÔMMÁY THỔI KHÍ NUÔI CÁMÁY THỔI KHÍ NUÔI TÔM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 25 tháng 1, 2018

Cộng đồng sinh vật phù du trong hệ thống nuôi tôm độc canh, hệ thống tích hợp Biofloc

Mỗi tuần một lần trong 7 tuần, thực vật phù du đã được lấy mẫu ở 3 bể nuôi tôm độc canh và 9 bể của hệ thống tích hợp biofloc nuôi tôm và tảo. Tỉ lệ sống của tôm trên 89% trong thời gian thử nghiệm. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và trọng lượng tôm cuối cùng ở hệ thống biofloc tốt hơn hệ thống độc canh. tag: may thoi khi
Cộng đồng sinh vật phù du trong hệ thống nuôi tôm độc canh, hệ thống tích hợp Biofloc
Trong các hệ thống nuôi tôm thâm canh, cộng đồng vi khuẩn gồm vi khuẩn, tảo, động vật phù du và các vi sinh vật khác đóng các vai trò quan trọng trong chu kỳ dinh dưỡng, cung cấp các hợp chất dinh dưỡng như các axit béo cần thiết cho sự sống và tốc độ tăng trưởng của tôm.
Các hệ thống truyền thống kết hợp nuôi tôm và rong biển đã được đề xuất để thúc đẩy quá trình giảm chất thải cũng như vi khuẩn lam (cyanobacteria) và các loài gây hại khác do cạnh tranh các chất dinh dưỡng trong suốt các quá trình quang hợp của rong biển.
Các tác giả đã thực hiện một nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Nuôi trồng Hải sản Bền vững của Khoa Thủy sản và Nuôi trồng Thủy sản thuộc Đại học Nông thôn Liên bang tại Pernambuco ở Recife, Brazil để đánh giá cộng đồng thực vật phù du trong một hệ thống tích hợp biofloc cho nuôi tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương, Litopenaeus vannamei, và tảo đỏ, Gracilaria birdiae.

Xác nhận sự đa dạng các loài vi tảo, bao gồm Bacillaria (A), Chaetoceros (B), Nitzschia (C, Heterokontophyta), Aphanothece (D), Oscillatoria (E, Cyanobacteria) và Gymnodinium (F, Dinophyta).
Thiết lập
Mỗi tuần một lần trong 7 tuần, thực vật phù du đã được lấy mẫu ở 3 bể nuôi tôm độc canh và 9 bể với hệ thống tích hợp biofloc nuôi tôm thẻ L. vannamei và tảo Gracilaria có trọng lượng ướt lần lượt là 2,5, 5,0 và 7,5 kg/m3.
Năm ngày trước khi thả tôm và rong biển, nước từ 1 bể ma trận (tổng nitơ amoniac ở mức 0,2 mg/L, nitơ nitrit ở mức 0,3 mg/L, nitơ nitrat 2,2 mg/L, độ kiềm 133,9 mg calcium carbonate/L và tổng chất rắn lơ lửng 133,6 mg/L) được pha trộn và chia đều vào 12 bể nhựa màu đen 40-L cho tới khoảng 25% thể tích bể, 75% thể tích bể còn lại cho thêm nước biển.
Không thay nước trong suốt thời gian thử nghiệm, ngoại trừ việc bổ sung nước ngọt đã được tẩy trùng bằng chlorin để bù nước thất thoát do bay hơi. Cường độ ánh sáng được duy trì ở mức khoảng 1.000 lux sử dụng đèn huỳnh quang với một thời gian có ánh sáng tự nhiên.
Mật đường (40% cacbon hữu cơ) được sử dụng làm nguồn cacbon cho thêm một lần một ngày để duy trì tỷ lệ cacbon:nitơ là 12:1. Vôi tôi được sử dụng để duy trì độ kiềm và pH tương ứng trên 100 mg/L và 7,5. tag: may quat nuoc
Thả giống, lấy mẫu
Các đơn vị/bể thử nghiệm được thả tôm có trọng lượng ban đầu 0,34 ± 0,01 g ở mật độ 500 con/m3. Tôm được cho ăn hàng ngày thức ăn nuôi tôm thương phẩm có độ đạm 40% vào lúc 8 giờ sáng, giữa trưa và 4 giờ chiều, điều chỉnh lượng cho ăn hàng ngày tùy theo mức ước tính tôm tiêu thụ, tỷ lệ chết và thức ăn thừa.
Các mẫu sinh khối G. birdiae được thu tại bãi biển Pau Amarelo ở Pernambuco, Brazil, và được bảo quản trong các túi nhựa để phân tích trong phòng thí nghiệm. Nước được rút cạn từ tất cả các mẫu, và cân lại sau khi vật liệu đã được kiểm tra cẩn thận để loại bỏ các sinh vật bám bên ngoài. Rong biển có cấu trúc sinh sản, có dấu hiệu của sự mất sắc tố và hoại tử đã được bỏ đi.
Rong biển được nuôi trồng trong các mô-đun hình chữ nhật (20,0 x 6,5 x 2,2 cm) bằng nhựa polyvinyl chloride đặt thành hàng ngang trong các bể. Các mô-đun hình chữ nhật cũng được sử dụng trong các bể đối chứng không có rong biển.
Quá trình hô hấp và quang hợp của cột nước được ghi nhận vào cuối tuần trong suốt thử nghiệm. Đo cường độ gộp và thực quang hợp và hô hấp của cột nước bằng phương pháp chai sáng và tối cổ điển. Nồng độ oxy ban đầu và cuối cùng được đo bằng máy đo oxy.
Mỗi tuần một lần, thực hiện lấy mẫu dọc bằng cách sử dụng các chai nhựa 600-mL để thu thực vật phù du. Nước lọc qua một lưới hình nón-trụ mắt lỗ 15 μ để chắt được 15 mL, cho mẫu cô đặc hơn 40 lần. Thực vật phù du được cố định bằng formalin, đệm với borax (hàn the) và được bảo quản trong hộp nhựa 10 mL.
Kết quả
Tỷ lệ tôm sống đều trên 89% trong suốt thời gian thử nghiệm là 42 ngày. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) 1,29 và trọng lượng tôm cuối cùng là 4.0 g trong hệ thống tích hợp biofloc cao hơn đáng kể (P
Cường độ quang hợp trung bình gộp (0,362- 0,437 mg oxy L/giờ), quang hợp thực (-0,223-0,281 mg oxy L/giờ) và hô hấp (0,416-0,544 mg oxy L/giờ) trong hệ thống nuôi độc canh và tích hợp biofloc được thể hiện ở hình 1. Các giá trị của quang hợp và hô hấp gộp dương, và quang hợp thực âm được quan sát thấy tương tự như các kết quả trong các hệ thống biofloc có ưu thế liên quan đến các vi sinh vật dị dưỡng.

Hình 1. Các mức quang hợp và hô hấp trong cột nước của các hệ thống nuôi độc canh và tích hợp biofloc trong suốt một thử nghiệm 42 ngày.
Khoảng 61 giống thực vật phù du thuộc ngành Heterokontophyta đã được xác định. Mật độ của chúng khoảng 30.000 tế bào/mL trong cả hai nghiệm thức.
Vi khuẩn lam là những sinh vật phong phú nhất, tiếp theo là Chlorophyta, Heterokontophyta, Euglenophyta và Dinophyta(Hình 2). Tuy nhiên, ưu thế của vi khuẩn lam trong hệ thống tích hợp biofloc ít hơn hệ thống độc canh. Điều này có thể là do sự gia tăng chất hữu cơ và phosphát trong nước, và những lợi thế cạnh tranh của các vi khuẩn lam hơn các nhóm sinh vật phù du khác. Vì vậy, việc kiểm soát vi khuẩn lam đã được đánh giá trong một hệ thống biofloc có thêm tảo cát.

Hình 2. Sự phong phú tương đối của thực vật phù du trong các hệ thống nuôi độc canh và tích hợp biofloc trong suốt thử nghiệm 42 ngày.
Khoảng 13 giống động vật phù du thuộc ngành Rotifer (luân trùng) và Copepod (giáp xác chân chèo, các nhóm Protozoa (động vật nguyên sinh) và Cladocera (giáp xác râu ngành) đã được xác định. Mật độ của chúng khoảng 1.700/L trong cả hai nghiệm thức.
Luân trùng là động vật phù du phong phú nhất trong các bể biofloc, tiếp theo là giáp xác chân chèo, động vật nguyên sinh và giáp xác râu ngành (Hình 3). Việc bổ sung cacbon hữu cơ trong các bể nuôi tôm đã tạo thuận lợi cho sự tăng trưởng của cộng đồng động vật phù du, có thể là do sự gia tăng sẵn có chất hữu cơ.

Hình 3. Sự phong phú tương đối của động vật phù du trong các hệ thống nuôi độc canh và hợp biofloc tích trong suốt thử nghiệm 42 ngày.
Mật độ luân trùng là 700-790/L, cao hơn so với ở các nhóm động vật phù du khác, có thể liên quan đến sự thích nghi của các sinh vật này đối với các mức dinh dưỡng và chất rắn cao hơn. Các kết quả tương tự đã được báo cáo đối với các hệ thống biofloc hoặc không thay nước/thay nước tối thiểu.
Các triển vọng
Trong hệ thống tích hợp biofloc, có vẻ như các cộng đồng sinh vật phù du đã chuyển đổi, giảm lượng vi khuẩn lam, và tăng Heterokontophyta (tảo dị roi) và Chlorophyta (tảo lục). Mặt khác, động vật nguyên sinh ít hơn, luân trùng và râu ngành tăng lên. Sự thay đổi này có thể đã cải thiện các mức đạm và axit béo không bão hòa đa trong biofloc góp phần làm tốc độ tăng trưởng của tôm tốt hơn trong hệ thống tích hợp.
Những kết quả này gợi ý nên thực hiện nghiên cứu thêm để đánh giá các thuộc tính sinh hóa và khả năng tiêu hóa của biofloc. tag: may suc khi
Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cong-dong-sinh-vat-phu-du-trong-he-thong-nuoi-tom-doc-canh-he-thong-tich-hop-biofloc-36598.html

Thứ Tư, 24 tháng 1, 2018

Công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Song Chuột

Hiện nay, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I là cơ sở duy nhất tại Việt Nam có thể sản xuất và cung ứng con giống cá Song Chuột. Đồng thời, công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Song Chuột đã được áp dụng cho các cơ sở sản xuất giống và nuôi cá biển trên phạm vi toàn quốc. tag: may thoi khi
Công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Song Chuột
Theo các chuyên gia trong lĩnh vực thủy sản, áp dụng quy trình nuôi cá Song Chuột thương phẩm sẽ giảm giá thành nuôi và đạt hiệu quả kinh tế. tag: may quat nuoc
 
Theo các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của quy trình công nghệ này, tỷ lệ thành thục của cá cái đạt 91,8% và cá đực là 94,6%; tỷ lệ sống của cá giai đoạn từ cá bột lên cá hương từ 3,5 đến 6,2%; tỷ lệ sống của cá giai đoạn từ cá hương lên cá giống hơn 70%; cá giống 90 ngày tuổi có tổng chiều dài từ 7,5 đến 9 cm.
 
Cá Song Chuột sau thời gian nuôi 15 tháng, từ cỡ cá giống đến kích cỡ cá thương phẩm, đạt hơn 0,5 kg; tỷ lệ sống hơn 66%.
Áp dụng quy trình nuôi thương phẩm của Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, cá Song Chuột ở thị trường Việt Nam có giá 700 đến 900 nghìn đồng/kg, rẻ hơn nhiều so với thị trường Trung Quốc, nơi cá Song Chuột được bán với giá hơn 100 USD/kg. tag: may suc khi
Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cong-nghe-san-xuat-giong-va-nuoi-thuong-pham-ca-song-chuot-36599.html

Thứ Ba, 23 tháng 1, 2018

Bệnh đốm trắng ở tôm nuôi và công nghệ nuôi tôm nhằm phòng, chống bệnh đốm trắng

Riêng năm 2014, theo số liệu của Cục Thú y, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bệnh đốm trắng đã xảy ra tại 250 xã, 68 huyện thuộc 22 tỉnh, thành phố trong cả nước, trải dọc theo chiều dài đất nước từ Quảng Ninh đến Cà Mau. tag: may thoi khi
Bệnh đốm trắng ở tôm nuôi và công nghệ nuôi tôm nhằm phòng, chống bệnh đốm trắng
So với năm trước, tuy số các địa phương để xảy ra bệnh đốm trắng giảm nhưng diện tích nuôi tôm bị bệnh lại tăng gần gấp đôi, lên tới hơn 22.600 ha, chiếm 3,33% tổng diện tích nuôi tôm của cả nước – trong đó có hơn 13.300 ha nuôi thâm canh và bán thâm canh, cùng với hơn 9.200 ha nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến.
Qua theo dõi, nhận thấy bệnh đốm trắng xảy ra trong năm qua ở cả 2 loài tôm nuôi chính là tôm chân trắng và tôm sú, với độ tuổi từ 10 đến 110 ngày sau khi thả giống. Diện tích nuôi tôm sú bị bệnh này nhiều hơn, chiếm khoảng 60% số diện tích nuôi tôm bị bệnh đốm trắng.
Trong năm 2014, đã có 3 tỉnh công bố dịch là Sóc Trăng, Nghệ An và Quảng Ninh. Sóc Trăng cũng là địa phương bị thiệt hại nhiều nhất với 11.000 ha nuôi tôm bị bệnh, chiếm gần nửa số diện tích nuôi bị bệnh đốm trắng trong cả nước.
Các nhà nghiên cứu bệnh học thủy sản cho biết, bệnh đốm trắng thường xuất hiện ở tôm nuôi vào mùa xuân và đầu mùa hè khi khí hậu, thời tiết thay đổi nhiều như sự biến thiên quá lớn của biên độ nhiệt giữa ngày và đêm dẫn đến tôm bị sốc và dễ nhiễm bệnh.
Bệnh đốm trắng được chia làm 2 dạng: dạng 1 là bệnh cấp tính thường làm cho tôm nuôi – nhất là các loài tôm thuộc giống tôm he (Penaeus) – bị chết hàng loạt với tỷ lệ cao trong vòng vài tuần; dạng 2 là bệnh tiềm ẩn, tồn tại độc lập trong các loài thuộc giống tôm càng xanh (Macrobrachium), các loài cua và tôm hùm sống trong tự nhiên và thường không có dấu hiệu bệnh lý.
Vi-rút gây bệnh đốm trắng phân bố rộng ở những vật chủ khác nhau, không chỉ ở một số loài thuộc giống tôm he mà còn ở nhiều loài khác trong bộ Mười chân (Decapoda) như cua, ghẹ, tôm hùm…
Điều này rất nguy hiểm do có nguy cơ làm tăng khả năng lây lan rộng rãi bệnh trong môi trường. Bệnh lan truyền chủ yếu theo chiều ngang qua nước, thức ăn và  rất dễ bùng phát khi môi trường biến đổi theo chiều hướng xấu làm cho tôm nuôi bị sốc.
Trong 3 năm gần đây, nhóm cán bộ khoa học của Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã triển khai thực hiện đề tài “Bước đầu nghiên cứu, sản xuất tolerine có khả năng hạn chế lây lan của virus gây bệnh đốm trắng trên tôm sú nuôi thương phẩm ở đồng bằng sông Cửu Long”.
Kết quả đã tạo ra được dòng nấm men có mang gen VP28 của virus gây bệnh đốm trắng có khả năng sản sinh protein VP28 dùng làm tolerine phòng bệnh đốm trắng cho tôm sú. Tolerine được xác định có tính an toàn 100% và bước đầu cho thấy có khả năng bảo vệ tôm sú nuôi trước bệnh đốm trắng, tuy không được toàn phần.
Hiện nay, đề tài đang tiến hành xác định thời gian và số lần cho ăn tolerine thích hợp để tolerine có hiệu quả bảo vệ cao nhất đối với tôm, đồng thời cũng xác định hiệu quả của tolerine trong việc hạn chế sự lây lan của virus gây bệnh đốm trắng ở tôm nuôi. tag: may quat nuoc
Trước tình hình diện tích nuôi tôm sú bị bệnh đốm trắng tăng nhiều, trong vụ nuôi tôm năm nay, người nuôi tôm cần áp dụng các công nghệ nuôi thân thiện với môi trường để phòng, chống bệnh hiệu quả, đạt năng suất, sản lượng cao và đảm bảo chất lượng sản phẩm tôm nuôi.
Trong quá trình nuôi tôm, cần đặc biệt chú ý đến việc duy trì ổn định môi trường nuôi bằng các biện pháp cơ học như quạt nước, sục khí đáy và xi phông đáy ao; các biện pháp hóa dược như bón vôi để duy trì pH, tăng độ kiềm; các biện pháp sinh học như dùng chế phẩm sinh học để cải tạo môi trường ao nuôi…
Bên cạnh đó, rất chú trọng khâu nâng cao sức đề kháng cho tôm nuôi thông qua việc sử dụng các biện pháp quản lý chăm sóc tốt, dùng thức ăn chất lượng cao để nuôi tôm, cho tôm ăn bổ sung các loại enzym, vitamin, chất khoáng vi lượng nhằm giúp tôm tăng cường khả năng tiêu hóa và sức đề kháng với bệnh.
Việc áp dụng các quy trình nuôi tôm tiên tiến – trong đó có quy trình nuôi tôm dùng chế phẩm sinh học và quy trình nuôi tôm theo công nghệ biofloc có tác dụng rất lớn nhằm phòng, chống bệnh đốm trắng cho tôm nuôi.
Quy trình nuôi tôm dùng chế phẩm sinh học do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành, theo đó, trong quá trình nuôi có dùng các loại chế phẩm vi sinh (có tên trong Danh mục được Bộ cho phép sử dụng) để làm sạch môi trường nước ao nuôi, đồng thời bổ sung các loại men tiêu hóa vào thức ăn và cho tôm ăn hàng ngày với lượng phù hợp. Định kỳ hàng tháng trong suốt vụ nuôi, cho tôm ăn thêm các loại vitamin A, C, D, E và bổ sung các chất khoáng vi lượng vào ao nuôi.
Quy trình nuôi tôm theo công nghệ biofloc là quy trình ứng dụng công nghệ biofloc để nuôi tôm thâm canh. Công nghệ biofloc dựa trên nguyên lý bổ sung một tỷ lệ phù hợp nguồn cacbon làm thức ăn cho vi sinh vật dị dưỡng với nguồn nitơ có sẵn trong nước ao nuôi, tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển ưu thế trong ao nuôi.
Công nghệ biofloc giải quyết được 2 vấn đề trong quá trình nuôi, đó là loại bỏ các chất dinh dưỡng chuyển hóa vào sinh khối vi sinh vật dị dưỡng xử lý nước ao nuôi, và sử dụng tập hợp các biofloc làm nguồn thức ăn tự nhiên giàu dinh dưỡng bổ sung tại chỗ cho tôm nuôi.
Khi nuôi tôm theo công nghệ biofloc, người nuôi không cần thiết phải xây dựng hệ thống lọc sinh học phụ trợ vì các quá trình vi sinh giúp khử độc tính của các hợp chất chứa nitơ đều diễn ra ngay trong môi trường nước của hệ thống nuôi, đồng thời cũng không cần dùng các biện pháp khác để khử trùng nước, ví dụ khử trùng bằng khí ôzôn, vì chúng sẽ cản trở hoạt động của vi sinh vật trong nước.
Do đó, công nghệ biofloc giúp làm giảm chi phí thức ăn, nâng cao an toàn sinh học, hạn chế tối đa sự nhiễm bệnh, nhất là các bệnh do virus gây ra cho tôm nuôi như bệnh đốm trắng. tag: may suc khi
Nguồn: https://www.2lua.vn/article/benh-dom-trang-o-tom-nuoi-va-cong-nghe-nuoi-tom-nham-phong-chong-benh-dom-trang-36600.html

Thứ Hai, 22 tháng 1, 2018

Có thu nhập cao từ nuôi ốc hương trong đìa

Trúng lớn khi nuôi đìa
Có thu nhập cao từ nuôi ốc hương trong đìa
Nhiều người nuôi ốc hương ở Vũng Chào (xã Xuân Phương) hai năm liền được mùa, được giá. Nuôi ốc hương thời gian ngắn, chi phí đầu tư thấp nhưng hiệu quả kinh tế rất cao so với nghề nuôi tôm hùm lồng. tag: may thoi khi
Anh Nguyễn Văn Tân, quê ở miền Bắc vào xã Xuân Phương thuê đìa rộng 4.000m2, trong đó 3.000m2 nuôi ốc, 1.000 m2dùng chứa nước. Sau 5 tháng nuôi, anh Tân thu hoạch 6 tấn ốc hương.
Với giá 230.000 đồng/kg, sau khi trừ các khoản chi phí, anh thu lãi trên 600 triệu đồng. Anh Tân cho biết, thức ăn cho ốc hương rẻ hơn thức ăn nuôi tôm hùm. Cũng là cá giã cào, cua, ghẹ… nhưng thức ăn nuôi tôm hùm có giá 20.000 đồng/kg còn ốc hương là 16.000 đồng/kg.
Tuy nhiên, người nuôi phải chú ý đến kỹ thuật cho ăn từng giai đoạn. Khi ốc còn nhỏ thì cho ốc ăn tôm dăm (tôm nhỏ), sau đó cho ăn cá, khoảng tháng thứ 3 cho ốc ăn lại tôm dâm để tạo can xi vỏ cứng. Nghề nuôi ốc hương “sướng” hơn nhiều so với nghề nuôi tôm hùm lồng, vì nuôi ốc khoảng 5 đến 6 tháng là thu hoạch, trong khi nuôi tôm hùm lồng phải đến 2 năm mới thu hoạch.
Anh Nguyễn Văn Tùng, một người nuôi ốc hương ở Vũng Chào, phấn khởi nói: Từ hai năm nay, nghề nuôi ốc hương trong đìa ở đây “trúng” lớn, người nuôi ít nhất cũng thu lãi 200 triệu đồng. Tuy nhiên, anh Tùng cũng khuyến cáo, nuôi ốc hương phải chú trọng kỹ thuật nuôi, vì rủi ro lớn hơn tôm hùm.
Khi nhiễm bệnh, ốc hương chết sạch đìa, mình ốc thối rữa; trong khi đó tôm hùm chết lai rai, còn vớt vát bán được.
Vì vậy, để ốc hương không bị nhiễm bệnh, đìa phải được tạo ôxy thường xuyên, lắp hai nguồn quạt nổi tạo ôxy trên bề mặt và hai nguồn lủi âm dưới đìa để sục khí. Đặc biệt, người nuôi phải thường xuyên cào vớt thức ăn thừa dưới đầm để nguồn nước không ô nhiễm.
Trước đây, nuôi ốc hương ở vùng này phải qua 3 “khâu”: Đẻ, ương, nuôi thành ốc thịt. Giai đoạn ốc đẻ khoảng 2,5 tháng, giai đoạn ương từ 10 đến 15 ngày, sau đó ốc hương con mới được nuôi thành ốc thương phẩm.
Thế nhưng gần đây, nhiều người chuyên nuôi cho ốc đẻ rồi ương còn người nuôi ốc hương thành phẩm chỉ việc mua con giống về nuôi. Giá con giống hiện nay thấp, 10 vạn con có giá 70 triệu đồng, còn trước đây là 90 triệu đồng.
Ông Phan Thanh Sơn, một người nuôi ốc hương ở xã Xuân Cảnh, cho hay: Để đạt hiệu quả, người nuôi đừng ham nuôi dày, thả khoảng 10 vạn con ốc trong 1,5 sào. Ốc hương lớn đều đặn đến tháng thứ 5 thì đạt 150 con/kg, thu gần 1 tấn ốc thành phẩm. tag: may quat nuoc
Nuôi chắn đăng bị ô nhiễm
Theo thống kê của Phòng Kinh tế TX Sông Cầu, diện tích nuôi trồng cá mú, cá chẽm, ốc hương, cua trong đìa khoảng 300ha, trong đó khoảng 13ha diện tích nuôi ốc hương… Tuy nhiên, thời gian qua, nghề nuôi trồng thủy sản ở đây mang tính tự phát, người nuôi chưa tuân theo lịch thời vụ cũng như quy hoạch vùng
nuôi nên vấn đề ô nhiễm môi trường nuôi thường xuyên xảy ra. Bởi theo nhận định của Trạm Thú y TX Sông Cầu, thức ăn con tôm hùm và ốc hương đều là thức ăn tươi sống, trong khi đó các vùng nuôi này liền kề nhau, điều này dẫn đến môi trường bị ô nhiễm, dịch bệnh xảy ra.
Còn theo nhiều người nuôi trồng thủy sản ở TX Sông Cầu, cũng là nuôi ốc hương nhưng nuôi chắn đăng (dùng đăng chắn ngoài biển) thì “tuột tay” vì ốc chết, còn nuôi đìa thắng lớn. Nguyên nhân nuôi chắn đăng ngoài biển nước ô nhiễm ngâm trực tiếp vào chắn đăng lâu ngày, ốc hương chịu không nổi, thò vòi ra chết sạch.
Cũng do nguồn nước ô nhiễm, những ngày qua, vùng nuôi ốc hương chắn đăng ở khu vực Gành Đỏ, phường Xuân Đài (TX Sông Cầu) bị chết nhiều.
Ông Bùi Văn Thắng, một người nuôi ốc hương ở thôn Hòa Lợi (xã Xuân Cảnh), thổ lộ: Nuôi ốc hương trong chắn đăng khó vệ sinh vùng nuôi.
Còn nuôi trong đìa, người nuôi thường xuyên cào thức ăn thừa dưới đáy hồ khi phát hiện ốc nằm đơ trên mặt đìa là biết ốc đã bị bệnh. Ốc hương thò vòi ra, chính là ốc bị nhiễm bệnh nặng, người nuôi lập tức dừng cho ăn và thuê kỹ sư thủy sản đến tìm hiểu, “bắt bệnh” rồi trị bệnh cho ốc.
Nghề nuôi ốc hương ở TX Sông Cầu đang phát triển theo hướng mới, đó là thuê kỹ thuật viên trong khâu nuôi bằng cách chia phần trăm. Nghĩa là thuê người am hiểu kỹ thuật chăm sóc đìa nuôi rồi trả lương hàng tháng, bên cạnh đó giao khoán được hưởng phần trăm. Nếu cuối vụ, người nuôi thu 500 triệu đồng thì công nhân kỹ thuật được hưởng 50 triệu đồng.
Gọi là người có vốn người có công cùng hưởng lợi để gắn kết trách nhiệm. Ông Phạm Xuân Hương, Trưởng trạm Thú y TX Sông Cầu, khuyến cáo: Nuôi ốc hương cần tuân thủ theo lịch thời vụ, địa điểm đã quy hoạch vùng nuôi để tránh sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm.
Chúng ta nên nuôi ốc mật độ thưa để ốc phát triển và sử dụng con giống có nguồn gốc rõ ràng, được ngành chức năng kiểm dịch. tag: may suc khi
Nguồn: https://www.2lua.vn/article/co-thu-nhap-cao-tu-nuoi-oc-huong-trong-dia-36601.html

Chủ Nhật, 21 tháng 1, 2018

Nuôi tôm vụ đông hiệu quả hơn nuôi chính vụ

Nuôi tôm vụ đông đã phát triển từ năm 2005 tại đảo Hải Nam Trung Quốc, ở Việt Nam bắt đầu phát triển tại các tỉnh miền Bắc từ năm 2011. tag: may thoi khi
Nuôi tôm vụ đông hiệu quả hơn nuôi chính vụ
Theo các chuyên gia, nuôi tôm vụ đông có những lợi thế như sản phẩm dễ bán hơn, giá bán cao hơn chính vụ (từ 70.000 – 150.000 đồng/kg), môi trường nuôi ít bị ô nhiễm hơn, dịch bệnh ít xảy ra hơn, co thể nuôi được 3 vụ/năm…
Tuy nhiên nuôi tôm vụ đông cũng có nhiều khó khăn như nhiệt độ thấp nên người nuôi phải đầu tư cao hơn (làm nhà bạt) để ổn định nhiệt độ, thời gian nuôi dài hơn, quản lý môi trường khó khăn hơn.
Qua khảo sát của chúng tôi, khi nuôi tôm trong nhà bạt, nhiệt độ trong nhà thường cao hơn bên ngoài từ 5-15 độ, các hộ nuôi đều có hiệu quả rất cao vì giá tôm vụ đông thường cao gấp 1,5 – 2 lần giá chính vụ, lại rất dễ bán do khan hiếm.
Để bạn đọc có thêm căn cứ phát triển nuôi tôm vụ đông, tôi xin thông tin thêm một vài mô hình nuôi tôm hiệu quả cao tại các tỉnh miền Bắc trong năm 2014 và giới thiệu các biện pháp kỹ thuật được áp dụng tại các mô hình đó.
1. Hình thức nuôi được áp dụng phổ biến
Có hai hình thức nuôi được đánh giá là đạt hiệu quả gồm nuôi đa cấp và nuôi 1 cấp
– Nuôi đa cấp: Giai đoạn 1 được ương trong bể ương trong nhà với thời gian 20 – 30 ngày với mật độ 500 – 1.000 con/m2, sau khi tôm đạt cỡ 3-4 cm/con, được san ra ao thương phẩm, sau 2 tháng nuôi tôm đạt cỡ 50-60 con/kg tiến hành thu hoạch. Mô hình nuôi đa cấp điển hình là  Hợp tác xã Xuân Thành – Xuân Phổ – Nghi Xuân – Hà Tĩnh
– Nuôi 1 cấp (mua giống thả trực tiếp xuống ao): Tôm nuôi trong nhà bạt cỡ giống P12 trở lên, thời gian nuôi từ 3-4 tháng tiến hành thu hoạch. Hộ ông Nguyễn Văn Dũng ở thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh và hộ ông Đỗ Quang Bốn ở Thái Thụy, Thái Bình là những thành công với cách nuôi này.

Nuôi tôm trong nhà bạt phủ nilon
Ưu điểm nuôi tôm trong nhà bạt tránh được thời tiết bất lợi như mưa và gió làm giảm pH, nhiệt độ, độ mặn và gây phân tầng nước trong ao nuôi tôm.
2. Kỹ thuật được áp dụng trong nuôi tôm vụ đông
2.1 Chuẩn bị ao và nhà bạt
Ao có diện tích từ 1.000-3.000 m2, thiết kế hình vuông, được lót bạt hoặc bê tông hóa, có lắp đặt hệ thống xi-phông đáy. Do nuôi trong nhà bạt kín gió phải tăng cường hơn hệ thống sục khí đáy và quạt nước để đảm bảo hàm lượng oxy đầy đủ.
Xây dựng nhà bạt có hai loại:
– Kiểu chóp nón: Nhà bạt được xây dựng trên ao theo hình chóp nón, giữa ao có một trụ chính, xung quanh ao cắm trụ bê tông hoặc trụ thép cao khảng 20 cm so với mặt đất cách nhau khoảng 30 cm. Dây cáp đường kính Φ 3mm, được căng xung quanh ao đảm bảo độ dốc 5%, trên được phủ màng kính (nilon). Theo ông Đỗ Quang Bốn ở Thái Thụy, Thái Bình, việc xây dựng theo hình chóp nón có ưu điểm tránh được gió bão tốt hơn khi xây dựng theo hình ngôi nhà.
Thiết kế nhà bạt của ông Đỗ Quang Bốn ở Thái Thụy – Thái Bình
– Kiểu mái nhà: Nhà bạt được xây dựng gồm 2 mái, có diện tích 1,2 ha, xà nhà được làm bằng ống kẽm có đường kính Φ 60, cột đường kính Φ 70, cao mái từ 3,5-4m, dây cáp bọc nhựa trên mái được móc vào các cột thép cố định xung quanh. Trên mái được phủ bạt nilon và được bảo vệ bạt nilon bằng lưới. Theo ông Nguyễn Văn Dũng ở thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, xây dựng nhà như trên có ưu điểm giá thành thấp hơn nhà chóp nón và dễ thao tác hơn.

Nhà bạt nuôi tôm vụ đông tại Quảng Ninh
2.2. Đối tượng nuôi và mùa vụ nuôi
– Đối tượng nuôi tôm vụ đông: Tôm thẻ chân trắng vì thời gian nuôi ngắn
– Vụ nuôi: các hộ nuôi tôm vụ đông thường tính toán vụ nuôi để thu hoạch trước Tết nhằm bán được giá cao. Thời gian thả giống từ tháng 8-10 âm lịch, tức vào khoảng tháng 9-11 dương lịch.
2.3. Mật độ thả và thức ăn
Mật độ thả giống nuôi tôm vụ đông được các hộ thả nuôi cao hơn với chính vụ. Cụ thể như sau:
– Nuôi đa cấp: Thả mật độ trung bình 80 con/m2
– Nuôi 1 cấp: Thả 80-120 con/m2
– Giống tôm thẻ chân trắng: Được mua cơ sở được phép sản xuất theo quy định của Ngành Thủy sản, khỏe mạnh, cỡ tổi thiểu P12 trở lên, được cơ quan thú y cấp giấy kiểm dịch, được xét nghiệm âm tính với các bệnh trong danh mục các bệnh bắt buộc do cơ quan chuyên môn cấp, có nguồn gốc rõ ràng, khỏe mạnh.
– Thức ăn tôm chân trắng được mua có nguồn gốc rõ ràng, yêu cầu tỷ lệ đạm 32 – 38%, lipit 4-6%, độ ẩm
2.4. Quản lý môi trường ao nuôi
Cơ sở nuôi của ông Bốn ở Thái Thụy, Thái Bình dùng chế phẩm sinh học để quản lý môi trường nước được sản xuất EM2 từ EM gốc. Cách làm như sau:
– Nguyên liệu: 1 lít mật đường hoặc 1 kg đường đỏ + 1 lít EM gốc + 45-50 lít nước ngọt sạch khuẩn + 2 kg cám gạo hoặc bột ngô + 10 g muối ăn;
– Cách tiến hành: cho vào thùng ủ kín 7 ngày

EM2 và EM gốc
– Cách sử dụng: Chế phẩm EM2 được sử dụng định kỳ 3-7 ngày/lần tùy theo điều kiện màu nước ao nuôi để bón, liều lượng 50 lít EM2/1.000 m3 nước.
Cơ sở  nuôi của ông Dũng ở thành phố Móng Cái, Quảng Ninh Quản lý môi trường bằng công nghệ Nano định kỳ 7 ngày/lần, giữa hai lần dùng Nano sử dụng chế phẩm vi sinh.


Nano và ao nuôi tôm của ông Dũng ở Quảng Ninh
Quản lý nước: Định kỳ 3-5 ngày tiến hành xi phông đáy sau cấp thêm nước vào ao nuôi.
2.5. Biện pháp phòng trị bệnh
– Để tránh hiện tượng tôm sốc môi trường nước, ao cấp nước bổ sung được xây dựng trong nhà bạt.
– Định kỳ dùng Iotdin phòng bệnh 20 ngày/lần vào những tháng đầu sau giảm 15 ngày/lần. Liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
– Dùng chế phầm sinh học bón định kỳ 5-7 ngày/lần để gây màu nước và phân hủy khí độc (chú ý, nếu dùng chế phẩm sinh học thì không dùng Iotdin). tag: may quat nuoc
3. Đánh giá tình hình nuôi tôm vụ đông
– Tình hình dịch bệnh: Theo đánh giá của các hộ nuôi, nuôi tôm vụ đông ít dịch bệnh hơn nuôi chính vụ.
– Tốc độ sinh trưởng : Do vụ đông nhiệt độ xuống thấp nên thời gian nuôi kéo dài hơn so với chính vụ từ 1,5 đến 2 lần.
– Hệ số thức ăn: Theo tính toán của một số hộ đã nuôi thì hệ số thức ăn không cao hơn so với chính vụ khoảng 1,15-1,2kg/kg tôm.
– Hiệu quả kinh tế mang lại
Hiệu quả kinh tế mang lại được đánh giá qua khảo sát 2 hộ nuôi ông Nguyễn Văn Dũng tại TP Móng Cái, Quảng Ninh và hộ ông Đỗ Quang Bốn, Thái Thụy, Thái Bình như sau:
Hiệu quả kinh tế trên 1 ha đối với nuôi chính vụ và nuôi vụ đông của 2 hộ
ĐVT: triệu đồng
TTNội dungNguyễn Văn DũngĐỗ Quang Bốn
Nuôi tôm chính vụNuôi tôm vụ đôngNuôi tôm chính vụNuôi tôm vụ đông
IĐầu tư cơ bản    
1Khấu khao công trình và thiết bị30568290
2Khấu khao nhà bạt 160 180
IIChi phí sản xuất    
1Giống8012080120
2Thức ăn409461,5407495
3Công lao động37,5904080
4Điện, nhiên liệu36504790
5Thuốc, hóa chất, chế phẩm SH70,581,57670,5
6Chi khác10,5201717,5
IIITổng chi673,51.0397491.143
 Sản lượng (tấn)910,18,910,9
 Giá bán (1.000 /kg)175250175250
IVTổng thu1.575,002.525,001.557,502.725,00
VLợi nhuận901,501.486,00808,501.582,00
Theo bảng trên, tôm vụ đông của hộ ông Nguyễn Văn Dũng ở TP Móng Cái, Quảng Ninh lợi nhuận đạt 1.486,0 triệu đồng/ha, gấp 1,6 lần so với nuôi chính vụ (901,5 triệu đồng/ha). Hộ ông Đỗ Quang Bốn ở Thái Thụy, Thái Bình lợi nhuận đạt 1.582,0 triệu/ha đồng gấp gần 2 lần nuôi chính vụ 808,5 triệu đồng/ha.
Đánh giá về tỷ suất lợi nhuận (lợi nhuận/tổng chi), tỷ suất lợi nhuận của ông Dũng, Quảng Ninh: nuôi chính vụ 1,3 và nuôi vụ đông 1,4. Tỷ xuất lợi nhuận của ông Bốn – Thái Bình: nuôi chính vụ 1,1 và nuôi vụ đông 1,4.
4. Kết luận và kiến nghị
Kết luận
– Nuôi tôm vụ đông thời gian nuôi dài hơn chính vụ khoảng 1,5 lần, nhưng lợi nhuận/ha gấp 1,5-2 lần so với nuôi chính vụ.
– Đầu tư ban đầu nuôi tôm vụ đông cao hơn nuôi chính vụ, thấp nhất khoảng 500 triệu đồng/ha
– Tình hình dịch bệnh ít xảy ra hơn với nuôi chính vụ, đặc biệt các bệnh đốm trắng, hoại tử gan tụy không xảy ra
– Giá bán tôm vụ đông so với nuôi chính vụ cao gần 1,5 lần và dễ bán.
 Kiến nghị
Tăng cường thông tin tuyên truyền, phổ biến kỹ thuật nuôi tôm vụ đông đối với các tỉnh ven biển phía Bắc.
Đề nghị có chính sách hỗ trợ hoặc cho vay vốn đối với những hộ có nhu cầu nuôi tôm vụ đông
Bộ nên quy định các cơ sở nuôi phải đáp ứng đủ điều kiện hạ tầng, cơ sở vật chất mới tiến hành thả nuôi để tránh tình hình dịch bệnh có thể xảy ra trên diện rộng.
Các đơn vị nghiên cứu cần xây dựng quy trình nuôi tôm vụ đông phù hợp các tỉnh miền Bắc. tag: may suc khi
Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-tom-vu-dong-hieu-qua-hon-nuoi-chinh-vu-36611.html

Thứ Sáu, 19 tháng 1, 2018

Kiểm soát chất lượng nước và đáy ao nuôi tôm thông qua chỉ số pH và chỉ số Tiềm năng oxi hóa khử ORP

Bài viết này bàn về việc kiểm soát chất lượng nước – kiểm soát biến động pH (thông qua kiểm soát mật độ tảo và Kiềm) và quản lý đáy ao (thông qua kiểm soát tiềm năng oxi hóa khử ORP - Oxidation Reduction Potential). tag: may thoi khi
Kiểm soát chất lượng nước và đáy ao nuôi tôm thông qua chỉ số pH và chỉ số Tiềm năng oxi hóa khử ORP
Phần 1: Kiểm soát chất lượng nước (kiểm soát biến động pH nước)
Chất lượng môi trường ao nuôi không ổn định sẽ ảnh hưởng đế hoạt động trao đổi chất và tiến trình sinh lý khác của vật nuôi – làm gia tăng stress (sốc) đối với vật nuôi đưa đến dễ mẫn cảm với bệnh tật gây chết vật nuôi và làm chậm tăng trưởng, ảnh hưởng đến năng suất – sản lượng.
pH là một trong các yếu tố cơ bản ảnh hưởng chất lượng nước ao nuôi – pH hay Hydrogen tiềm năng phản ánh độ axít hoặc ba zơ của dung dịch nước – Khoảng đo pH có giá trị từ 0 đến 14 và tùy theo giá trị đo pH dung dịch nước được gọi là trung tính, axít hay bazơ.
Khoảng pH thích hợp cho nuôi trồng thủy sản là 6 đến 9 – tối ưu là 7,5 đến 8,5.

pH > 9,0
Ammonium sẽ chuyển hóa thành Ammonia độc và gia tăng các độc tố của tảo lam
pH
Phóng thích kim loai nặng từ nền đáy gây ảnh hưởng vật nuôi
7,5-8,5Thích hợp cho nuôi thủy sản

pH thấp làm giảm quá trình trích trữ khoáng trong cơ thể tôm làm tôm mềm vỏ hoặc lột xác không hoàn toàn, ngăn cản quá trình tạo các mô của sinh vật.
pH phụ thuộc rất lớn quá trình quang hợp và hô hấp. Vì vậy, kiểm soát pH cần thông qua kiểm soát mật độ tảo trong ao và lượng CO2 tạo ra do quá trình hô hấp.
Nước có pH thấp thì tảo kém phát triển, ngoài ra các loài động vật phù du làm thức ăn tôm cá thường phát triển tốt trong nước có pH hơi kiềm.
Mật độ tảo càng cao thì biến động pH trong ngày càng lớn – Vì vậy cần kiểm soát mật độ tảo vừa phải. Kiểm soát được pH trong khoảng 7,8 đến 8,2 và biến động trong ngày của pH

Hình 1. Quan hệ giữa mật độ tảo và biến độ pH trong ngày (pH ít biến động khi mật độ tảo vừa phải)
Chú thích: Dense bloom: mật độ tảo cao; Sparse bloom : mật độ tảo vừa phải; Sunrise: sang sớm; Sunset: chiều tối.
Lượng CO2 tạo ra do quá trình hô hấp phụ thuộc sinh lượng của sinh vật trong ao. pH càng thấp thì càng tăng tính hòa tan của CO2 trong nước – làm a xít hóa nước.

Hình 2. Cân bằng giữa pH và CO2
Tổng độ kiềm của nước là năng lực của nước trong việc trung hòa các a xít  (bởi các ba zơ HCO3-, CO3- và OH-) hay còn gọi là năng lực hệ đệm của nước. Tổng độ kiềm thường được đo dưới dạng mg/l Cancium Carbonate (CaCo3).
Độ kiềm nước càng thấp thì biến động độ pH càng lớn – Trong nước nuôi tôm phải duy trì được độ kiềm cao (100-120) đễ ổn định được pH vì nếu đệ độ kiềm xuống thấp sẽ làm pH biến động lớn trong ngày làm gia tăng stress (sốc) cho tôm, làm giảm tăng trưởng và gây chết tôm.


Hình 3. Quan hệ giữa độ kiềm và biến động pH trong ngày
Chú thích: Low alkalinity water induces broad pH fluctuations inducing shrimp stress, reduced growth and even mortality: độ kiềm thấp làm tăng biến động pH trong ngày, gây sốc tôm, giảm tăng trưởng và gây chết tôm; High alkalinity levels with high pH affect shrimp molting as well (excess salt lose): độ kiềm cao và pH cao cũng ảnh hưởng lột xác của tôm (làm mất muôi trong cơ thể tôm); Early morning: sáng sớm; Mid afternoon: giữa chiều.
Giữ pH ổn định cao vừa phải (7,8 đến 8,2) và độ kiềm cao vừa phải (khoảng 100-120 mg/l) là tối ưu nhất cho nuôi tôm biển.
Quá trình quang hợp bẻ gãy O xít carbon (CO2) chuyển hóa năng lượng mặt trời và carbon vào vật chất hữu cơ dưới dạng đường – quá trình quang hợp xảy ra ở thực vật, tảo và một số vi khuẩn. Khí o xít carbon từ không khí có độ hòa tan vào nước cao hơn độ hòa tan của khí oxi. Khi hòa tan khí o xít carbon tạo a xít carbonic.

Hình 4. Khoảng pH kiểm soát quá trình đồng hóa khí CO2 của tảo,cần thiết cho quá trình quang hợp và sự tăng trưởng của tảo
Chú thích: ở pH thấp chủ yếu tồn tại a xít carbonic và khí CO2, ở pH vừa phải chủ yếu tồn tại HCO3- và ở pH quá cao chủ yếu tồn tại CO32-. Nghĩa là tùy thuộc pH, phản ứng hóa học sau đây sẽ nghiêng về sản phẩm nào:

Ngược lại quá trình quang hợp, quá trình hô hấp lại tạo ra khí O xít carbonic và giải phóng nhiệt:

Quá trình hô hấp sản sinh ra khí CO2 vì thế làm giảm pH làm cho ao nuôi ngày càng axít. Quá trình hô hấp của sinh vật tiêu thụ oxi hòa tan vì vậy nếu ao nuôi thiếu hụt oxi hòa tan sẽ gây nên hội chứng “Lão hóa ao nuôi” vì:
- Đất ao sẽ bị a xít hóa
- Điều kiện iếm khí đáy ao đựa đến quá trình lên men kị khí và khử sulfate hình thành sulfide (H2S) gây độc cho tôm.
pH còn ảnh hưởng đến hoạt tính chất xử lý nước Chlorine vì ở pH thấp đa số Chlorine khi hòa tan sẽ tồn tại ở dạng Hypochlorous (HOCl) trong khi pH cao khi hòa tan vào nước Chorine cho sản phẩm Hypoclorite. Hypochlorous (HOCl) mới là dạng hoạt tính có độc lực diệt khuẩn cao, nghĩa là Chlorine chỉ hiệu quả ở pH thấp. tag: may quat nuoc
Làm thế nào để ổn định pH của nước :
1. Cung cấp khoáng sinh học
2. Kiểm soát tỉ lệ N:P thông qua kiểm soát cân bằng dinh dưỡng và cân bằng tảo, kiểm soát tốt mật độ tảo và ngăn ngừa tảo bị chết, ngăn ngừa sự phát triển tảo lam
3. Kiểm soát vi sinh thông qua ứng dụng vi sinh có lợi (probiotics) để phân giải hợp chất hữu cơ trong ao, kiểm soát pH đất nền đáy, kiểm soát tăng trưởng tảo
4. Duy trì độ kiềm cao vừa phải (100-120 mg/l CaCO3)
Phần 2: Quản lý đáy ao và chất lượng nước thong qua kiểm soát ORP
Quản lý tốt đáy ao và chất lượng nước thông qua chỉ số Tiềm năng oxi hóa khử ORP (Oxidation – Reduction – Potential).
Tiềm năng oxi hóa khử phả ánh độ sạch của nước và khả năng phân giải các chất ô nhiễm trong ao, đặc biệt đáy ao.
ORP được đo bằng millivolts (mV) và dao động từ -2000 đến +2000 mV. Tiềm năng oxi hóa khử cũng phản ánh gián tiếp hàm lượng oxi hòa tan.

Mức độ ORP (mV) của nướcỨng dụng của nước
0-150Không sử dụng được trongg thực tế
150-250Sử dụng cho nuôi trồng thủy sản
250-350Sử dụng cho các tháp làm lạnh
400-475Nước dùng làm hồ bơi
450-600Nước làm nóng
600Nước khử trùng
800Nước hoàn toàn vô trùng

ORP có giá trị âm phản ánh ao nuôi ở điều kiện bị iếm khí (thích hợp cho quá trình lên men kị khí), ORP giá trị dương phản ánh ao nuôi có điều kiện hiếu khí. ORP có giá trị âm và điều kiện iếm khí sẽ kích thích sự phát triển của tảo lam, gây độc cho ao tôm. Ngoài ra, khi iếm khí sẽ kích thích các vi khuẩn Vibrio khử sulfate (DesulfoVibrio) phát triển để oxi hóa vật chất hữu cơ và sản sinh khí H2S.

Hình 5. Quá trình khử sulfate của vi khuẩn tạo sulfide
Khí H2S không màu và rất độc dù hàm lượng thấp. Tùy thuộc pH của nước và đáy ao, phản ứng khử sulfate của vi khuẩn sẽ tạo thành HS- hay H2S, hay S2-. Ở pH thấp sẽ gia tăng dạng độc trong khi ở pH cao sẽ gia tăng hàm lượng sulfide tự do (HS-) là dạng không độc. Vì vậy, cần phải duy trì pH cao ổn định trong ao nuôi tôm.

Ao nuôi ở điều kiện oxi hóa sẽ có ORP mang giá trị dương và nước nuôi trồng thủy sản cần có giá trị ORP trong khoảng +150 đến +250mV.
Ở khoảng ORP từ +100 đến + 350mV là khoảng thích hợp cho hoạt động của các Vi khuẩn nitrate hóa (Nitrosomonas sp. và Nitrobacter sp.) và các vi khuẩn dị dưỡng có lợi, thúc đẩy quá trình phân giải hiếu khí các hợp chất hữu cơ tốt hơn – làm cho chất lượng nước ao nuôi tốt hơn và đáy ao sạch hơn.
Kiểm soát ORP bằng việc gia tăng oxy hòa tan với các sản phẩm tạo oxi hòa tan trong nước (oxygenator), sản phẩm oxi hóa khử chất hữu cơ (khoáng, chlorine hoạt tính ở nồng độ thấp,...), cung cấp ao nuôi sản phẩm phân bón chứa nitrate và silic kích thích tảo khuê phát triển (NO3 và silicate – SiO2),  và kiểm soát sinh học đáy ao (Bio-regulator).
Sự có mặt của phân bón chứa Nitrate (NO3) trong ao nuôi sẽ ngăn ngừa việc giảm tiềm năng khử và tăng tiềm năng oxi hóa cũng như ngăn ngừa sự thành lập sulfides (Avnimelech, 2012). tag: may suc khi
Nguồn: https://www.2lua.vn/article/kiem-soat-chat-luong-nuoc-va-day-ao-nuoi-tom-thong-qua-chi-so-ph-va-chi-so-tiem-nang-oxi-hoa-khu-orp-36614.html

Thứ Năm, 18 tháng 1, 2018

Kỹ thuật nuôi thịt cua đồng ở Trung Quốc

Ao đất thường có kích thước giữa 0,6 đến 2 ha, với độ sâu 1,5-1,8 m, có hàng rào tương tự như ao ương để ngăn cua thoát ra ngoài và ngăn các loài địch hại xâm nhập ao. tag: may thoi khi
Kỹ thuật nuôi thịt cua đồng ở Trung Quốc
Trước khi thả nuôi, ao thường được khử trùng bằng vôi (2.000 đến 3.000 kg mỗi ha) và 10 ngày sau khi khử trùng, thực vật thủy sinh, chẳng hạn như Vallisneria spiralis, Hydrilla verticillata, Ceratophyllum demersum, maackianus Potamogeton và Myriophyllum spicatum được trồng trong ao.
Một tháng hoặc hơn một tháng trước khi thả nuôi cua, ốc bùn sống (Bellamya purificata), là thức ăn ưa thích của cua được nuôi trong các ao (3.500 đến 4.500 kg mỗi ha) để chúng sinh sản làm thức ăn cho cua. Phân bón lên men hữu cơ áp dụng 10-20 ngày trước khi thả cua giống để tăng sinh khối thức ăn tự nhiên trong ao.
Mật độ thả giống cua giống đồng xu khoảng 7.500 cua mỗi ha, và chúng cũng thường được nuôi ghép với các loài cá nước ngọt khác nhau và tôm, có thể được thả vào các thời điểm khác nhau. Việc xem xét quan trọng để lựa chọn các loài cá nuôi ghép là thức ăn của chúng không cạnh tranh với cua. Trong thời gian nuôi, chất lượng nước cần phải được giám sát chặt chẽ.
Oxy hoà tan nên khoảng 5mg/L, pH 7-8,5 và độ trong giữa 50 và 80 cm. Năng suất mỗi ha mỗi năm thay đổi, tùy thuộc vào cường độ của nuôi ghép, nhưng thường gần 1.000 kg cua, cộng với khoảng 2.000 kg cá và tôm nước ngọt khác nhau.
Đối với nuôi đăng quần, mật độ thả giống từ 1.500 đến 9.000 con cua mỗi ha. Tại một số địa điểm với năng suất thức ăn tự nhiên tốt, cua không cần cho ăn bổ sung.
Tại những nơi năng suất tự nhiên thấp cần bổ sung ốc sen Bellamya purificata được thả từ 6,000-7,500 kg ốc cho mỗi ha trước khi thả nuôi cua và đôi khi thả bổ sung ốc một lần nữa sau khi thả cua giống.
Chế độ cho ăn bổ sung bao gồm cá tạp băm nhỏ và ngô  và lúa mì nấu chín ở mức 7-8% trọng lượng cua mỗi ngày. tag: may quat nuoc
Tỉ lệ sống cua thịt thường khoảng 40-50%. Nuôi đăng quần đạt  lợi nhuận cao hơn các phương pháp nuôi khác bởi vì có chất lượng nước tốt hơn và sử dụng được thức ăn tự nhiên. Ngoài ra, bởi vì mật độ thấp, cua phát triển lớn hơn và thu được giá cao hơn. Nói chung, năng suất từ ​​nuôi đăng quần khoảng 150-450 kg mỗi ha, đôi lúc có thể đạt đến 1.000 kg mỗi ha.
Nuôi ruộng lúa cua thịt phổ biến ở miền bắc Trung Quốc. Cánh đồng lúa cần thiết kế cho phù hợp nuôi cua, như hàng rào, các kênh mương bao quanh và thực vật thủy sinh. Một trong những khác biệt chính là kênh mương bao quanh cần phải sâu hơn 1,5 mét. Ngoài ra, một ao nhỏ (100-200 m2 với độ sâu 1,5 m) cần phải được đào để thích nghi cho cua đồng xu có kích thước nhỏ và cho việc lưu trữ tạm thời cua thịt trong thời gian thu hoạch.
Mật độ thả trong nuôi ruộng lúa dao động từ 1 đến 1,5 con  cua đồng xu cho mỗi mét vuông. Khi ruộng lúa đã trồng lúa, độ sâu nước thường được giữ ở mức thấp 5-10 tại cm. Nước được trao đổi thường xuyên hơn bởi vì mức độ thấp của nước trong ruộng lúa và việc thay nước thường xuyên nhằm tránh biến động lớn về nhiệt độ.
Bởi vì thức ăn tự nhiên trong các ruộng lúa tương đối thấp, cua cần phải được cho ăn bổ sung một lần hoặc hai lần một ngày với thức ăn bổ sung như lúa mì, ốc, cá tạp, tôm thùng rác hoặc ốc bùn. Nguồn thức ăn cung cấp này thường được nấu chín để tránh các vấn đề chất lượng nước trong vùng nước nông.
Với quản lý hợp lý, nuôi cua ruộng lúa có thể đạt được năng suất 300-450 kg mỗi ha, và đôi khi 750 kg cho mỗi ha. Mặc dù cua ăn trên cây lúa, chúng cũng ăn côn trùng và địch hại cây lúa nhờ đó có thể cải thiện sản xuất lúa gạo, và cua nuôi ruộng lúa được xem như cua "hữu cơ"  sẽ có giá trị cao hơn khi bán ra thị trường và mang lại các lợi ích kinh tế đáng kể.
Thị trường cua Trung Quốc chủ yếu được tiêu thụ trong nước ở Trung Quốc mặc dù nó cũng được xuất khẩu sang các nước khác như Singapore dưới dạng cua cái mang trứng và cua lớn để có giá cao nhất. tag: may suc khi
Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ky-thuat-nuoi-thit-cua-dong-o-trung-quoc-36616.html

Thứ Tư, 17 tháng 1, 2018

Cá nhụ đối tượng nuôi triển vọng cho vùng xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu

Nhưng nghề nuôi cá biển còn gặp khó khăn do phụ thuộc vào con giống tự nhiên, cùng với sự phát triển thiếu qui hoạch, kỹ thuật nuôi chưa được chuyển giao cho nông dân, thị trường tiêu thụ chưa ổn định nên nghề nuôi cá biển ở nước ta chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có. tag: may thoi khi
Cá nhụ đối tượng nuôi triển vọng cho vùng xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu
Nước ta lại là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu toàn cầu. Việc nước mặn có khả năng xâm nhập sâu vào nội địa là điều hoàn toàn có thể xảy ra.
Vì vậy, việc đưa một số loài cá biển như cá nhụ có giá trị kinh tế, có khả năng thích nghi biên độ muối rộng, có thể sống trong vùng nước ngọt, lợ và mặn là rất cần thiết.

Cá nhụ (Eleutheronema tetradactylum)
Cá nhụ (Eleutheronema tetradactylum) còn được gọi là cá chét là loài cá biển có giá trị kinh tế. Cá nhụ được nuôi phổ biến các nước như Thái Lan (chiếm 52% sản lượng), Indonesia (14%), Burundi (13%) và các nước còn lại như Cambodia, Bangladesh, Lào và Malaysia (theo thống kê của FAO năm 2009).
Tổng sản lượng cá nhụ nuôi (nuôi chủ yếu trong nước ngọt) trong năm 2009 vào khoảng hơn 109,7 nghìn tấn với giá trị khoảng 110,6 triệu USD. Thái Lan là nước dẫn đầu về sản lượng nuôi của loài cá này. tag: may quat nuoc
Nuôi thương phẩm trong ao và lồng bè được triển khai nuôi thành công tại Singapore. Giá bán trên thị trường vào khoảng 190.000 - 240.000 đ/kg. Tại Malaysia giá cá thương phẩm vào khoảng 154.000 đ/kg. Tại Việt Nam giá bán tại chợ khoảng 60.000 đ/kg.
Cá nhụ được nuôi trong ao đất và lồng bè (giống như hệ thống nuôi cá chẽm) nhưng mật độ cao hơn vào khoảng 3-4 con/m2 (cở cá: 5-7,5 cm). Là loài cá ăn động vật nên chúng có thể ăn thịt lẫn nhau và rất nhạy cảm với nồng độ oxygen thấp.
Khi nuôi trong điều kiện môi trường tối ưu, tỉ lệ sống khá cao 80-90% khi đạt kích thước thu hoạch, với thức ăn công nghiệp của cá chẽm (30% protein) và hệ số FCR trên 2. Cá này có thể phát triển đạt 300-400g trong 10 tháng.
Cá nhụ Thái bình dương (Polydactylus sexfilis) được nuôi thương phẩm phổ biến trong các hệ thống nuôi như trong ao đất, nuôi thâm canh trong bể tròn, hệ thống raceway và nuôi trong lồng bè.
Sử dụng thức ăn viên công nghiệp có hàm lượng đạm cao 50% và lipid 12%, hệ số FCR 0,59-0,68.
Tỉ lệ sống đạt trên 95%. Khi nuôi loài cá này cần duy trì hàm lượng oxy hòa tan trên 5 ppm. tag: may suc khi
Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ca-nhu-doi-tuong-nuoi-trien-vong-cho-vung-xam-nhap-man-do-bien-doi-khi-hau-36618.html

Thứ Ba, 16 tháng 1, 2018

Các vấn đề của đáy ao nuôi tôm

Do môi trường đất đáy ao diễn ra nhiều quá trình phản ứng tác động đến chất lượng nước nên người nuôi tôm luôn phải chú trọng đến các vấn đề như là: tag: may thoi khi
Các vấn đề của đáy ao nuôi tôm
- Đất hữu cơ hoặc đất phèn tiềm tàng ở khu vực xây dựng ao
-Trầm tích, bùn lắng
- Chất hữu cơ tích tụ và trạng thái hoạt động yếm khí ở đáy ao.
1-    Đất hữu cơ, đất phèn tiềm tàng
Ở các ao nuôi quảng canh, tôm hấp thu dinh dưỡng bằng việc ăn các sinh vật là nguồn thức ăn tự nhiên phát triển ở đất đáy ao. Sự trao đổi dinh dưỡng giữa đất đáy ao với lớp nước phủ bên trên và pH của đất đáy ao ảnh hưởng lớn đến hàm lượng dinh dưỡng có sẵn đối với thực vật phù du và tảo đáy.
Tình trạng axít cao trong đất ngăn cản sự phân hủy chất hữu cơ và tái tạo dinh dưỡng, giảm sự sẵn có của phosphate qua sự hình thành phosphate nhôm và sắt không hòa tan, đồng thời có các tác động trực tiếp ức chế đến sinh vật đáy và tôm.
Ở một số nơi, nguồn nước cung cấp cho ao chứa hàm lượng lớn các hạt bùn lơ lửng, sau đó chúng sẽ lắng đọng ở đáy ao và tiêu diệt động vật đáy. Lượng chất hữu cơ dư thừa trong đất có thể gây ra trạng thái yếm khí ở đáy ao tác động xấu đến sinh vật đáy và tôm.
Tuy nhiên, ngoại trừ các ao làm ở vùng đất hữu cơ tự nhiên, hoặc đất phèn tiềm tàng, hoặc hàm lượng cao chất lơ lửng trong nguồn nước thì việc quản lý đất nền đáy ao không có tầm quan trọng trong nuôi quảng canh. Ở một số vùng nuôi tôm, đất ở dạng hạt lơ lửng trong nguồn nước cấp được lấy ra thông qua quá trình lắng cặn trước khi tháo nước vào ao.
Chất cặn lắng cũng có thể lấy ra khỏi ao xen kẽ giữa vụ, nhưng cách tốt hơn thường để lại cặn lắng/bùn trong các ao không, phơi khô, cày và rải vôi đáy để tăng cường phân hủy hữu cơ.
Phơi quá khô và rải vôi nhiều làm chậm hoạt động của vi khuẩn và phản tác dụng. Ít khi cần bón vôi trong giai đoạn nuôi, bởi vì nước lợ có độ đệm tốt.
Các ao đất phèn đáy có thể có những hạn chế pH gắt gao là do quá trình oxy hóa quặng sắt. Tốt hơn hết là bảo vệ lớp đất phèn tiềm tàng này khỏi các điều kiện oxy hóa làm sản sinh axít thay vì bỏ vào trong ao một lượng lớn vôi để trung hòa axít trong đất không được bảo vệ khỏi các điều kiện oxy hóa.
Luôn luôn để nước đầy trong ao càng nhiều càng tốt. Ao không được đào sâu hơn mức cần thiết và bề mặt bờ ao nhỏ nhất có thể. Cần kiểm tra độ kiềm thường xuyên để điều chỉnh bón vôi. Công việc cải tạo ao đất phèn tiềm tàng nhanh có thể bị tác động bởi quá trình định kỳ phơi khô, rửa đáy và bờ ao cũng như chọn đúng loại vôi thích hợp. tag: may quat nuoc
2-    Trầm tích, bùn lắng
Ở các ao nuôi tôm bán thâm canh và thâm canh, lượng chất hữu cơ có thể tích tụ đáng kể ở đáy ao. Thức ăn đưa vào ao để giúp cho tôm tăng trưởng lắng xuống đáy ao và được tôm ăn gần hết. Các chất dinh dưỡng vô cơ được giải phóng vào trong nước từ quá trình phân hủy thức ăn thừa, phân tôm của vi khuẩn sẽ kích thích thực vật phù du nở hoa mật độ dày.
Các tế bào thực vật phù du có đời sống ngắn ngủi, liên tục chết và chìm xuống đáy ao.
Ở một số nơi, nguồn nước cấp chứa hàm lượng các chất hữu cơ đáng kể lơ lửng trong nước có thể lâu dần đọng ở đáy. Tốc độ thay nước nhiều có thể làm gia tăng lượng trầm tích và bùn. Sục khí cơ học thường xói mòn đất đáy ao ở chỗ có dòng nước chảy mạnh và tụ lại ở chỗ dòng nước chảy chậm, như thế nó sẽ biến đổi hình dạng đáy ao, giảm thể tích ao và cung cấp các chất nền hữu cơ cho vi sinh vật.
3-    Chất hữu cơ tích tụ và hoạt động yếm khí ở đáy ao
Các quá trình sinh, hóa, lý diễn ra ở môi trường bề mặt lớp đất đáy ao đan xen lẫn vào nhau phức tạp liên quan đến chất lượng nước và năng suất nuôi. Thức ăn thừa, phân tôm, xác của các vi sinh vật dưới nước và đất lắng xuống đáy ao nơi mà ở đó quá trình phân hủy sinh học các chất hữu cơ cặn lắng này có thể làm giảm hoặc tụt mức oxy hòa tan.
Dòng chảy của nước yếu nhất ở mặt phân giới giữa đất và nước - nơi mà vi sinh vật nhanh chóng phân hủy chất hữu cơ và lượng oxy hòa tan có thể bị tiêu hao nhanh hơn là do hoạt động của dòng chảy có thể tạo ra.
Điều này có thể dẫn đến trạng thái yếm khí ở đáy ao ngay cả khi nước ở bên trên có thể đã đủ oxy hòa tan.  Trong đất và bùn ở điều kiện yếm khí, vi sinh vật có thể sản sinh ra nitrite, sắt hóa trị II, hydrogen sulfide, mêtan và giải phóng các hỗn hợp khác có thể gây hại cho tôm.
Sự phân hủy yếm khí dẫn đến giảm quá trình oxy hóa khử nitrite, hydrogen sulfide tiềm tàng ở nồng độ cao và có thể sản sinh ra các chất khử khác.
Việc thay nước, sục khí cơ học và tạo tuần hoàn nước thường được sử dụng để tăng oxy hòa tan, ngăn chặn sản sinh các chất khử và tăng cường phân hủy các chất hữu cơ ở đáy ao. Tuy nhiên, sự tuần hoàn nước ở tốc độ cao có thể xói mòn đáy và có thể gây ra các vấn đề lắng đọng ở các chỗ khác của đáy ao. tag: may suc khi
Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cac-van-de-cua-day-ao-nuoi-tom-36619.html

Thứ Hai, 15 tháng 1, 2018

Phát triển công nghệ sáng tạo nuôi tôm trong nhà

Sau đó Tiến sỹ Addison L. Lawrence, một nhà khoa học tại Phòng thí nghiệm nuôi trồng hải sản của Trạm Nghiên cứu Nông nghiệp Texas, đã có một ý tưởng đơn giản nhưng đó là cuộc cách mạng nông nghiệp: Tại sao không xếp chồng các bể nước lên nhau để nuôi tôm ? tag: may thoi khi
Phát triển công nghệ sáng tạo nuôi tôm trong nhà
Và một khái niệm ra đời  "Nuôi siêu thâm canh bằng các hệ thống bể nước chảy xếp chồng lên nhau" một ý tưởng sáng tạo có thể sản xuất lên đến 1.000.000 pounds tôm hàng năm (1 pound bằng 0,453 kg) trên 0,4 ha diện tích mặt nước, so với 20.000 pounds sản xuất trong ao hay 50.000 pounds sản xuất trong các hệ thống nước chảy trước đây, Tiến sĩ Lawrence cho biết Công nghệ này hiện đã được sử dụng trong một cơ sở sản xuất.
Đối với Tiến sĩ Lawrence, ý tưởng "đơn giản" của việc chồng các bể lên nhau đạt hiệu quả nếu ông có thể tìm ra cách làm thế nào để làm cho chúng nhẹ hơn. tag: may quat nuoc
Ông nhớ lại những gì đã xảy ra tiếp theo: "Tôi đã đi đến các trường kỹ thuật. Tôi nói, 'OK, độ sâu tối đa của bể nuôi là những gì mà tôi cần, nó sẽ là kinh tế để xếp chồng các bể lên nhau ?
"Họ nói,' Ông không thể có được độ sâu hơn 12 inches nước (mỗi inch = 2,54 cm). Lý do là, trọng lượng tăng lên rất nhiều và Ông sẽ mất đi sự hỗ trợ cấu trúc khi xếp chồng các bể nuôi tôm lên nhau".
Một năm sau, Tiến sĩ Lawrence đã tiến hành thí nghiệm nuôi tôm trong nước nông cạn đầu tiên của mình, Ông phát hiện tôm có thể phát triển trong độ sâu ít nhất là 4 inches nước. "Ông nói: "Đó là điều không thể tin nổi. Vì vậy, Ông đã dành 4-5 năm tiếp theo tiến hành thí nghiệm sau khi thí nghiệm, thử nghiệm nó theo nhiều cách khác nhau, để xác nhận với mình rằng cách tiếp cận này là kinh tế và có thể thực hiện được".
Cuối cùng, trong năm 2008, Ông đã đăng ký bằng sáng chế cho hệ thống nuôi tôm bằng các bể nuôi hình chữ nhật xếp chồng lên nhau và được kiểm soát bằng máy tính, bể nuôi có độ sâu mức nước khoảng  6-8 inch nước, và xếp chồng lên nhau 7 lớp chiều cao.
Hiện nay Công ty sản xuất thủy hải sản Royal Caridea,  đã mua bản quyền công nghệ này và xây dựng cơ sở sản xuất trong năm 2012. Tiến sĩ Lawrence dự đoán rằng, trong thời gian tới, mỗi khu vực đô thị lớn sẽ có một trang trại tôm ở bên phải nó "và rằng sẽ không có lý do gì để phụ thuộc nhiều vào nguồn tôm nhập khẩu nữa". tag: may suc khi
Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phat-trien-cong-nghe-sang-tao-nuoi-tom-trong-nha-36620.html

Chủ Nhật, 14 tháng 1, 2018

Kỹ thuật nuôi tôm sú công nghiệp của Úc - Phần 1

1. Chọn lựa vị trí và địa hình
-  Hầu hết các vùng đất ven biển là thích hợp cho nuôi tôm biển, tuy nhiên để tìm được vùng đất lý tưởng cho nuôi tôm là rất khó vì những vùng đất thuộc vùng khô cằn ven biển thường sẽ bị thiếu nước ngọt và độ mặn tăng cao do quá trình bốc hơi trong khi những vùng đất ven biển nơi có lượng mưa cao thì sẽ gặp vấn đề độ mặn xuống quá thấp hoặc mùa vụ nước ngọt kéo dài gây bất lợi cho nuôi tôm. Vì vậy, những vùng đất nội đồng nhiễm mặn lại là những vùng nuôi thích hợp cho độ mặn thấp. tag: may thoi khi
Kỹ thuật nuôi tôm sú công nghiệp của Úc - Phần 1
-  Địa hình lý tưởng là những vùng đất phẳng và khoảng cách đến nguồn nước biển không được vượt quá 1Km và có cao trình phải cao hơn 1m so với mức thủy triều cao nhất nhưng không được vượt quá 10m so so với mức thủy triều cao nhất.
Ao xây dựng ở những vùng đất thấp hơn 1m so với  mức thủy triều cao nhất sẽ không tháo cạn được nước trong lúc triều cường trong khi ao xây dựng ở những vùng cao trình lớn hơn nhiều so với mức thủy triều cao nhất sẽ tốn kém năng lượng máy bơm và đẩy chi phí giá thành lên cao. Vì vậy, cao trình vừa phải là chọn lựa tốt nhất.
-  Vị trí trại phải tiếp cận được nguồn điện 3 pha, đường lộ lớn và gần các khu vực có thể mua sắm trang thiết bị cần thiết cho trại và nhân viên.
-  Trại không nằm quá xa vùng tôm giống, thời gian vận chuyển tôm giống về trại phải dưới 12 tiếng đồng hồ (tốt nhất dưới 3 tiếng đồng hồ) để đảm bảo chất lượng tốt nhất của tôm giống.
-  Vị trí chọn lựa phải có cấu trúc đất thích hợp cho xây dựng ao, tránh các vùng đất dễ bị rò rỉ và dễ bị ảnh hưởng bởi các nguồn nước xung quanh. Đặc điểm đất thích hợp cho xây dựng ao nuôi tôm phải đảm bảo:
    + Xây dựng bờ bao và bờ ao ít tốn kém nhất
+ Đảm bảo tăng trưởng tốt các loài tảo có lợi (tảo khuê)
+ Ít bị thất thoát nước nhất
+ Đất phải có hàm lượng sét tối thiểu để giảm thất thoát nước do rò rỉ.
+ Đất phải có hàm lượng hữu cơ thấp
+ pH đất nằm trong khoảng 5,5 đến 8,5
+ Tránh các vùng đất a xít sufate, đất rời, tơi xốp, đất hữu cơ, đất có kết cấu lỏng lẽo, đất mềm và dễ thấm,…là không thích hợp cho việc xây dựng ao tôm.
2. Nguồn nước cấp và chất lượng nước
-  Độ mặn thích hợp nhất cho nuôi tôm sú và tôm thẻ là 15 đến 25 phần ngàn (15-25 ppt). Lượng mưa và sự bốc hơi có ảnh hưởng đến biến động độ mặn. Trong mùa khô độ mặn quá cao sẽ giảm tốc độ tăng trưởng của tôm và gia tăng chi phí sản xuất.
-  pH nuôi tôm biển dao động trong khoảng 7,5 đến 8,5, tốt nhất là 7,8 đến 8,2.
-  Chất lượng nguồn nước ven bờ thường bị ảnh hưởng bởi đất a xít, các yếu tố chất đất và các nguồn gây ô nhiễm từ hoạt động xả thải của ngành công nghiệp, đô thị, nông nghiệp,…cần lưu ý để tránh xa tối đa các nguồn ô nhiễm càng tốt.
3. Thiết kế ao 
Hầu hết ao nuôi tôm thịt được thiết kế theo các tiêu chuẩn sau: -  Ao nuôi có diện tích xấp xỉ 1ha (ao nhỏ nhất 500m2, ao lớn nhất 2 ha)
-  Ao hình vuông có góc bo tròn – có 1 góc lát bê tông trên bờ nối với đường đi. Tránh xây dựng ao có góc “chết” sẽ làm giảm khả năng lưu chuyển nước.
-  Bờ ao có độ dốc 2 đến 2,5 : 1 (hệ số mái), có thể lót bạt được.
-  Các ổ điện 3 pha được kéo quanh ao nhằm đảm bảo hoạt động của máy quạt nước dễ dàng.
-  Đáy ao có độ dốc 1:100 hướng đến phần sâu nhất nơi có cống thoát (Hình 2).

Hình 1. Điển hình của thiết kế ao và vị trí ao nuôi tôm ở Úc
Chú thích:
alternative discharge point: vị trí thải nước chọn lựa khác; bioremediation: ao xử lý sinh học, settlement: ao lắng chất cặn của nước từ ao nuôi; recycle pump: bơm tái sử dụng nước sau khi khi xử lý sinh học; reservoir: ao lắng; drain: kênh thải nước ao nuôi; aqueduct: kênh cấp nước cho ao nuôi; intake pump: bơm nước từ bờ biển vào ao chứa; discharge point: thải nước sau khi đã lắng ở ao lắng.

Hình 2. Thiết kế công trình ao nuôi tôm
Chú thích:
drain harvest pad: cống thu hoạch; monk outlet: cống thoát; aqueduct: mương cấp; inlet filter sock: cống cấp nước; cầu ra ao; roadway: đường đi; drain: mương thải; HAT: đỉnh triều cao nhất.

Hình 3. Cống thoát của ao nuôi tôm
Chú thích:
filter screen: lưới lọc; lowest point of pond: điểm thấp nhất của đáy ao; walking plank: tấm ván làm đường đi bộ; outlet pipe: cống thoát (đường kính 600-800 cm), bottom of outlet pipe above HAT: đầu ra của cống thoát phải cao hơn đỉnh triều cao; concrete harvest pad: vị trí thu hoạch tôm được bê tông hóa.
4. Ao chứa và hệ thống mương cấp nước
-  Cần có ao chứa nước để lấy nước biển vào chứa với thời gian lắng thích hợp (ít nhất 3 tuần). Vì vậy diện tích ao chứa nước ít nhất là 10% tổng diện tích trại. Sau khi lắng nước và xử lý ở ao chứa, nước được lọc vào các mương cấp đế cấp nước cho ao nuôi.
-  Các cống cấp nước từ mương cấp vào ao nuôi phải được lắp đặt cao hơn bên trên mức nước ao nuôi để các lưới lọc nước được giữ khô sau khi lọc nước vào ao nuôi. Cống cấp nước vào ao nuôi phải có công suất cấp nước tối thiểu 100 lít/ha/giây để cấp nước nhanh và thay nước nhanh khi cần thiết. tag: may quat nuoc

Hình 4a. Lấy nước từ biển vào ao chứa

Hình 4b. Hệ thống bơm – bơm nước từ ao chứa vào mương cấp

Hình 5. Hệ thống mương cấp nước vào ao nuôi sau khi lấy nước từ ao chứa
5. Hệ thống mương thải và đường đi bộ
-  Hệ thống mương thải phải đủ rộng để thu nước thải trong quá trình thay nước và xả nước khi thu hoạch – cũng như thải nước từ mương thải vào ao lắng và ao xử lý sinh học. Vị trí thải của ao đủ rộng để đặt lồng khi thu hoạch cũng như dễ dàng tiếp cận đường đi bên trên khi nâng các giỏ tôm thu hoạch.
-  Bờ ao có thể được thì trồng cỏ (ở phần trên mặt nước) để giảm thiểu rò rỉ nước. Các bờ ao của các ao nên có độ cao như nhau để dễ dàng điều phối, quản lý nước.
6. Ao lắng và ao xử lý sinh học
-  Các chất thải rắn và dinh dưỡng hòa tan trong nước thải ao nuôi sau thu hoạch sẽ được đưa vào ao lắng (ao lắng thường phải có diện tích lớn (chiếm 30% tổng diện tích trại).
-  Sau khi nước thải được lắng cặn, phần nước mặt được đưa qua ao xử lý sinh học là nơi thả nuôi các loài cá đối hoặc cá măng, rong và hầu để xử lý sinh học nguồn nước nuôi cũng như tăng thu nhập thêm từ các loài sản xuất sinh học.

Hình 6. Ao xử lý sinh học
Chú thích:
intake pump: bơm nước bơm vào ao chứa; reservoir: ao chứa; aqueduct: mương cấp nước ao nuôi; settlement channel of treatment pond: kênh lắng của ao xử lý; recycle pump: bơm tuần hoàn tái sử dụng nước; bioremediation zone treatment: khu vực xử lý sinh học (bằng công nghệ nước chảy race-way). tag: may suc khi
Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ky-thuat-nuoi-tom-su-cong-nghiep-cua-uc-phan-1-36615.html

Thứ Sáu, 12 tháng 1, 2018

Hướng dẫn một số biện pháp kỹ thuật nuôi tôm chân trắng thâm canh hạn chế dịch bệnh

Diễn biến phức tạp của các loại dịch bệnh bệnh nguy hiểm trên thế giới nhất hội chứng gan tuỵ cấp tính chưa tìm ra tác nhân gây bệnh; thời tiết có nhiều diễn biến bất thường do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu... tag: may thoi khi
Hướng dẫn một số biện pháp kỹ thuật nuôi tôm chân trắng thâm canh hạn chế dịch bệnh
Ở tỉnh ta, theo đề án nuôi trồng thuỷ sản năm 2013, toàn tỉnh sẽ thả nuôi trên 1.000ha tôm thẻ chân trắng; hơn một tháng qua bà con đã tập trung cải tạo ao đầm, hiện tại đã cải tạo chuẩn bị đạt trên 95% diện tích ao đầm nuôi, theo lịch thời vụ thả giống vụ Xuân Hè bà con ngư dân đang tập trung thả giống.
Để thực hiện tốt kế hoạch vụ nuôi Xuân hè, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do các yếu tố thiên tai, dịch bệnh có thể gây ra, trên cơ sở tài liệu của Tổng cục Thuỷ sản xin lưu ý các hộ/cơ sở nuôi trong tỉnh một số biện pháp kỹ thuật sau:
1. Công tác chọn và thả giống:
1.1 Chọn giống:
- Chọn mua tôm giống từ các cơ sở có uy tín; có phiếu xét nghiệm âm tính về các mầm bệnh MBV, đốm trắng, đầu vằng, taura, hoại tử gan tuỵ…
- Cở giống: P12.
- Kiểm tra sức khoẻ tôm: bà con có thể đánh giá sức khỏe của tôm giống bằng phương pháp gây sốc độ mặn, lấy 40 - 50 con tôm giống cho vào cốc thuỷ tinh chứa 300ml nước lấy từ bao vận chuyển giống (hoặc từ bể ương).; hạ độ mặn đột ngột xuống còn 15%0 và theo dõi trong 30 phút, nếu tỷ lệ sống 100% là đạt yêu cầu.
1.2 Thả giống:
- Mật độ thả: 30 - 60 con/m2 (đối với những hộ mới chuyển đổi) và 30 - 60 con/m2 (những hộ có kinh nghiệm và điều kiện).
- Cách thả:
+ Thả vào sáng sớm hoặc chiều mát.
+ Trước khi thả giống cần chạy quạt nước từ 8 - 12 giờ để bảo đảm hàm lượng oxy hoà tan trong ao phải lớn hơn 4mg/l.
+ Cân bằng nhiệt độ giữa bao giống và nước ao nuôi bằng cách thả nỗi bao tôm giống trên mặt hồ 5 - 10 phút. Sau đó, cho nước từ từ vào đầy bao, cầm phía đáy bao từ từ dốc ngược để tôm giống theo nước ra ao nuôi.
2. Chăm sóc và quản lý ao nuôi:
2.1 Cho ăn:
* Cho tôm ăn theo bảng hướng dẫn. Ngoài ra tuỳ vào thực tế (sức khoẻ của tôm, chu kỳ lột xác, thời tiết,…) và theo dõi sàng ăn/chài khi tôm 20 ngày tuổi trở lên để điều chỉnh, quản lý thức ăn cho phù hợp, tránh tình trạng cho tôm ăn thiếu hoặc thừa ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của tôm. Cho tôm ăn mỗi ngày 3 lần.
* Lượng thức ăn:
- Tháng nuôi thứ nhất: Sử dụng thức ăn cở nhỏ cho tôm giai đoạn mới thả nuôi.
+ Ngày đầu tiên cho ăn 2,8 - 3 kg/100.000 tôm giống; trong 10 ngày đầu tiên, cứ 1 ngày tăng 0,4 kg/100.000 tôm giống; từ ngày thứ 10 - 20, cứ 1 ngày tăng 0,5 kg/100.000 tôm giống;
+ Ngày thứ 10 sau khi thả giống, cho ít thức ăn vào sàng/nhá để tôm làm quen, dễ cho việc kiểm tra lượng thức ăn dư sau này. Sàng ăn cần đặt ở nơi bằng phẳng, cách bờ ao 1,5 - 2 m, sau cánh quạt nước 12 - 15 m, không đặt ở các góc ao, với diện tích 1.600 - 2.000 m2đặt 1 sàng ăn.
+ Sau 15 ngày có thể sử dụng các chất bổ sung vitamin, khoáng chất cho tôm ăn theo chỉ dẫn của nhà sản xuất cung cấp giúp tôm tăng sức đề kháng.
- Tháng nuôi thứ hai đến khi thu hoạch:
+ Điều chỉnh thức ăn trong ngày qua theo dõi lượng thức ăn trên sàng ăn.
+ Chuyển đổi loại thức ăn phù hợp theo giai đoạn phát triển, cở miệng tôm và nhu cầu dinh dưỡng như hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì. Khi chuyển đổi thức ăn, nên trộn lẫn thức ăn cũ và mới cho ăn ít nhất 3 ngày rồi mới chuyển hẳn sang cho ăn thức ăn số mới.
+ Cách điều chỉnh lượng thức ăn:
Kiểm tra thức ăn trong sàng/nhá
Cách xử lý cho lần ăn tiếp theo
Nếu tôm ăn hết
Tăng 5% thức ăn cho lần sau
Nếu thức ăn dư khoảng 10%
Giữ nguyên thức ăn cho lần sau
Nếu thức ăn dư khoảng 11 - 25%
Giảm 10% thức ăn cho lần sau
Nếu thức ăn dư khoảng 26 - 50%
Giảm 30% thức ăn cho lần sau
Nếu thức ăn còn nhiều hơn 50%
Ngưng cho ăn lần sau
Ảnh: Kiểm tra thức ăn tôm trong sàng/nhá
+ Thời gian kiểm tra thức ăn trong sàng/nhá:
Thời gian nuôi (ngày)
Thời gian kiểm tra sàng ăn (giờ)
21- 60 ngày : 2,5 - 2 giờ
61 - 90 ngày: 2 - 1,5 giờ
> 90 ngày: 1,5 - 1 giờ
* Lưu ý: Nhưng ngày thay đổi thời tiết, mưa, nắng gắt chỉ cho tôm ăn 70 - 80% lượng thức ăn đã định, tránh dư thừa gây ô nhiễm nước. Theo dõi kỳ lột vỏ của tôm để giảm lượng cho ăn và tăng sau khi tôm lột vỏ xong. tag: may quat nuoc
2.2 Quản lý môi trường ao nuôi:
- Thực hiện tốt việc kiểm tra và xử lý các yếu tố môi trường như sau:
+ Đo hàng ngày các chỉ số: oxy hoà tan, pH, độ trong.
+ Đo 3 - 5 ngày 1 lần các chỉ số: Độ kiềm và NH3.
* pH và độ kiềm là 2 yếu tố quan trọng tác động đến đời sống của tôm; khi pH và độ kiềm thay đổi ngoài khoảng thích hợp sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tôm, do vậy cần:
+ Khắc phục tình trạng pH thấp: gây tảo và giữ màu nước thích hợp đảm bảo độ trong đạt từ 30 - 40cm. Trong quá trình nuôi nếu pH < 7,5 cần bón vôi (CaCO3, Dolomite) với liều 10 - 20kg/1.000m3nước.
+ Khắc phục tình trạng pH cao: sử dụng đường 3kg/1.000m3nước kết hợp sử dụng vi sinh hoặc dùng Acid acetic 3 lít/1.000m3nước.
+ Khắc phục độ kiềm thấp: sử dụng Dolomite 15 - 20 kg/1.000m3nước vào ban đêm cho đến khi đạt yêu cầu.
+ Khắc phục độ kiềm cao: sử dụng EDTA 2 - 3kg/1.000m3nước vào ban đêm.
Tuỳ vào tình hình thực tế môi trường ao nuôi để điều chỉnh và bón lượng vôi thích hợp.
- Định kỳ bón vôi nông nghiệp CaCO3 10 ngày/lần vào lúc 20 - 21 giờ với liều lượng dao động từ 15 - 20 kg/1.000m3nước tuy theo độ mặn để điều chỉnh pH thích hợp:
+ Nếu độ mặn dưới 17%o thì điều chỉnh pH từ 8,2 - 8,4;
+ Nếu độ mặn trên 17%o thì điều chỉnh pH từ 8,0 - 8,2;
+ Nếu độ mặn = 25%o thì điều chỉnh pH từ 7,7 - 7,8;
Đến 11 - 12 giờ trưa ngày hôm sau, cấy vi sinh theo chỉ dẫn của nhà cung cấp (sản phẩm có uy tín, thương hiệu) để làm sạch môi trường;
- Khi tảo trong ao phát triển quá mạnh, màu nước thay đổi, pH dao động trong ngày > 0,5, cần:
+ Thay đổi tối thiểu 30% lượng nước trong ao;
+ Hoà tan 2 - 3kg đường cát/1.000m2 và tạt đều ao vào lúc 9 - 10 giờ sáng;
+ Chạy quạt, sục khí liên tục trong vài giờ;
- Khi nhiệt độ nước ao tăng trên 340C:
+ Cần giảm thức ăn;
+ Bổ sung Vitamin C (trộn vào thức ăn);
+ Tăng thời gian chạy quạt nước, sục khí;
* Một số lưu ý:
- Hạn chế lấy nước vào ao nuôi, khi cần thiết thì lấy vào hồ chứa lắng rồi xử lý Chlorin liều 30kg/1.000m3nước chạy quạt liên tục, đến khi hết dư lượng Chlorin thì bơm vào ao nuôi (qua túi lọc);
- Luôn duy trì độ kiềm đạt 120mg/lít trở lên bằng cách sử dụng vôi CaCO3hoặc vôi Dolomite và thường xuyên bổ sung khoáng cho ao nuôi vào ban đêm 3 - 5 ngày/lần giúp tôm lớn nhanh, cứng vỏ và lột xác đồng loạt.
- Chỉ diệt khuẩn khi cần thiết (tránh những trường hợp như: tôm đang suy yếu, đang lột xác, hay có các bệnh về gan tuỵ…);
- Hạn chế sử dụng men vi sinh trong giai đoạn đầu (khi mới thả giống đến 1,5 tháng nuôi);
- Tháng thứ nhất cần giữ màu nước hồ nuôi thích hợp (xanh nõn chuối) tạo sự ổn định các chỉ số môi trường như pH, độ kiềm, nhiệt độ, oxy hoà tan,…tránh sinh tảo đáy hoặc tảo phát triển quá mức.
- Tháng thứ hai:
+ Giữ màu nước hồ nuôi thích hợp; mực nước ao 1,2 - 1,8m để sự dao động về nhiệt độ, oxy hoà tan, pH giữa ban ngày và ban đêm diễn ra chậm không làm gây sốc tôm. Duy trì độ trong 30 - 40cm; độ kiềm 120mg/l trở lên; độ mặn 15 - 25%o ; pH 7,5 - 8,5; oxy hoà tan lớn hơn 4mg/l; H2S <0,01mg/l; NH3 < 0,1mg/l;
+ Định kỳ 20 - 25 ngày xử lý nước và đáy hồ nuôi bằng chế phẩm sinh học theo hướng dẫn của nhà cung cấp;
+ Quạt nước, bổ sung oxy từ 19h00 đến 05h00 sáng hôm sau;
+ Có thể bổ sung thuốc bổ, thuốc đường ruột, các loại khoáng trộn vào thức ăn theo hướng dẫn của nhà cung cấp có thương hiệu, uy tín để tăng sức đề kháng cho tôm nuôi. tag: may suc khi
Nguồn: https://www.2lua.vn/article/huong-dan-mot-so-bien-phap-ky-thuat-nuoi-tom-chan-trang-tham-canh-han-che-dich-benh-36622.html

Thứ Năm, 11 tháng 1, 2018

Cách tính lượng thức ăn để trong sàng ăn

Trong thực tế, việc định ra 1 tiêu chuẩn là rất khó vì nó phụ thuộc rất nhiều yếu tố như mật độ thả nuôi, tình trạng sức khỏe tôm, loài tôm thả nuôi hoặc thậm chí trong cùng 1 trại nuôi thì giữa các ao nuôi cũng khác nhau do tình trạng sức khỏe của tôm... tag: may thoi khi
Cách tính lượng thức ăn để trong sàng ăn
Vì vậy, bài viết này chỉ cung cấp một số kinh nghiệm để bà con nuôi tôm có cơ sở dựa vào đó mà điều chỉnh để rút tỉa kinh nghiệm trong quá trình nuôi.
 
I. Kinh nghiệm nuôi tôm ở Đài Loan về việc định lượng thức ăn đưa vào sàng ăn và thời gian kiểm tra như sau:
1. Cách bố trí sàng ăn
- Sàng ăn không được để gần nơi quạt nước.
- Sàng ăn không để nơi đáy ao bị nghiêng.
- Sàng ăn không để nơi đáy ao dễ bị ô nhiễm. tag: may quat nuoc
2. Số lượng Sàng ăn
Diện tích ao (ha)Số lượng sàng ăn (cái)
0,54
16
1,59
3. Tỉ lệ thức ăn cho vào sàng ăn
Trọng lượng thân2g-6g6g-15g15-25g25-45g
Ngày thả nuôi31-5051-7576-11011-130
Lượng thức ăn trong sàng2,4%3,0%3,5%4%
4. Kiểm tra và điều chỉnh
Trọng lượng thân2g-6g6g-15g15-25g và > 25g
Tình trạng bắt mồi và điều chỉnh
*Trong 1,5 giờ ăn hết, phải tăng lượng thức ăn lần kế tiếp
*Trong 2 giờ ăn hết, lượng ăn vừa đủ
*Sau 2 giờ không ăn hết, phải giảm lượng ăn lần kế tiếp
*Trong 1,5 giờ ăn hết, phải tăng lượng thức ăn lần kế tiếp
*Trong 2 giờ ăn hết, lượng ăn vừa đủ
*Sau 2 giờ không ăn hết, phải giảm lượng ăn lần kế tiếp
*Trong 1 giờ ăn hết, phải tăng lượng thức ăn lần kế tiếp
*Trong 1,5 giờ ăn hết, lượng ăn vừa đủ
*Sau 1,5 giờ không ăn hết, phải giảm lượng ăn lần kế tiếp
II. Kinh nghiệm nuôi tôm ở Thái lan thì sử dụng Bảng sau
Trọng lượng tôm (g)Lượng thức ăn trong sàng tính trên kg thức ăn cho ăn (g/kg/sàng)Thời gian kiểm tra (giờ)
1,5-412,5
5-822,5
9-1332
14-2242
23-3351,5
Như vậy có sự khác nhau nhiều trong kinh nghiệm định lượng thức ăn, rõ ràng việc cân vó thức ăn tùy thuộc nhiều vào kinh nghiệm - Bà con có thể dựa trên cơ sở của các Bảng bên trên để tự điều chỉnh và rút tỉa kinh nghiệm cho mình. tag: may suc khi
Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cach-tinh-luong-thuc-an-de-trong-sang-an-36623.html

Thứ Tư, 10 tháng 1, 2018

Tổng kết một số kinh nghiệm đối phó dịch bệnh gan tụy

Bài viết này tổng kết những kinh nghiệm của cá nhân tôi trong quá trình thực hiện quy trình nuôi 3 pha dùng men vi sinh và mật đường cũng như quá trình tư vấn, tiếp xúc trao đổi các trại nuôi thành công nhằm giới thiệu giúp bà con nông dân có thêm nhiều kiến thức và kinh nghiệm nuôi cho vụ nuôi thành công. tag: may thoi khi
Tổng kết một số kinh nghiệm đối phó dịch bệnh gan tụy
1) Quy trình 3 pha dùng men vi sinh và mật đường (ao đất):
Pha 1: Trong tháng nuôi đầu tiên (từ ngày 1 đến ngày 35) do lượng thức ăn cho tôm ăn chưa nhiều nên chất dơ đáy ao chưa nhiều vì vậy bà con nuôi tôm nên dùng tảo kiểm soát chất lượng nước cũng như tạo thêm nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm, tuy nhiên kỹ năng và kiến thức của pha nuôi này cần tập trung vào các vấn đề sau:
- Điều chỉnh lượng vi sinh có lợi và mật đường ở mức độ thấp đủ để kiểm soát mật độ tảo ở mức cho phép (không quá cao và không quá thấp)
- Nếu mật độ tảo quá thấp hoặc quá cao sẽ làm các yếu tố môi trường biến động lớn trong ngày dẫn đến sốc tôm và sức khỏe tôm kém đi, đặc biệt nếu để tảo quá dày sẽ làm rớt tảo gây nhiều nguy hiểm cho ao nuôi.
- Tạo các loài tảo có lợi (tảo khuê, tảo lục) để ức chế Vibrio cũng như giải quyết tảo độc (tảo lam, tảo giáp, tảo mắt) bằng việc nuôi ghép cá rô phi và bón khoáng Sanolife Nutrilake (nuôi ghép rô phi còn giúp ích là cá rô phi ăn các tôm bị chết, tránh lây lan trong ao).
Pha 2: từ ngày 35 đến ngày 50: khi thức ăn cho tôm ăn bắt đầu nhiều thì lượng chất dơ đáy ao gia tăng nên cần kiểm soát chất lượng nước thông qua việc phân giải chất hữu cơ đáy ao bằng vi sinh có lợi kết hợp việc kiểm soát tốt các yếu tố chất lượng nước như oxi hòa tan, Kiềm, pH nhằm ngăn ngừa việc hình thành khí độc trong ao.
- Điều chỉnh lượng mật đường và vi sinh có lợi ở mức vừa phải để chuyển dần pha tảo qua pha vi sinh - việc này cần điều chỉnh từ từ để có màu nước nâu là màu nước mà mật độ vi sinh đạt tối ưu cho việc xử lý các chất dơ giai đoạn này.
Pha 3: từ ngày 50 đến thu hoạch khi chất dơ đã quá nhiều thì việc kiểm soát chất hữu cơ cũng như khống chế mật độ Vibrio sp. bằng việc gia tăng áp đảo quần đàn vi sinh có lợi trong ao (chủ yếu là Bacillus sp.).
Màu nước pha nuôi này nên có màu kem sữa là tốt - là màu thể hiện mật độ cao của vi sinh Bacillus có lợi nhằm giải quyết chất dơ đáy ao, khống chế Vibrio sp.
Gia tăng hàm lượng Oxi hòa tan, đảo trộn tốt, kiểm soát tốt chênh lệch pH ngày đêm (tối đa 0,2-0,3) cũng như nâng cao độ kiềm và khoáng ăn, khoáng tạt có tính quyết định trong quy trình nuôi 3 pha dùng men vi sinh và mật đường. tag: may quat nuoc
2. Quy trình vừa diệt khuẩn và cấy vi sinh + mật đường (ao lót bạt khu vực miền Trung)
Do các ao nuôi khu vực miền Trung thả mật độ quá cao nên mật số Vibrio trong ao thường rất nhiều ngay giai đoạn đầu nên khó có thể dùng tảo để kiểm soát chất lượng nước và khống chế Vibrio sp.
Hơn nữa khu vực miền Trung là vùng triều cao và ao lót bạt nên si phone và xả đáy dễ dàng vì vậy có thể áp dụng quy trình vừa diệt khuẩn định kỳ vừa cấy vi sinh mật đường để khống chế Vibrio ngay giai đoạn đầu.
Sau khi diệt khuẩn bằng Sanocare PUR khoảng 24 giờ sau thì tiến hành siphone khuẩn chết và chất dơ ra rồi đợi thêm 24 giờ nữa cho hết Sanocare PUR thì tiến hành cấy vi sinh (Sanolife PRO W) và đánh mật đường với quy trình lập lại 10 ngày 1 lần.
3. Một số kinh nghiệm khác trong đối phó bệnh chết sớm ở tôm
- Phải chọn được tôm giống khỏe mạnh, sạch bệnh
- Ương gièo giống PL12 từ 12 đến 15 ngày rồi mới thả ao.
- Phải lắng nước lâu, lọc nước kỹ.
- Nuôi độ mặn thấp
- Nuôi ghép cá rô phi
- Gia tăng Oxi hòa tan, Kiềm, khoáng và giữ ổn định mật độ tảo và pH trong ngày.
- Cắt cử ăn hoặc giảm lượng ăn khi thời tiết biến đổi bất thường.
- Khi tôm có dấu hiệu rớt đáy thì nên bỏ cử ăn 1 ngày và diệt khuẩn liều cao trong nước bằng Sanocare PUR (0,8-1 ppm) và sau đó cho ăn trở lại thì giảm bớt lượng ăn và gia tăng gấp đôi liều dùng men vi sinh đường ruột (Sanolife PRO 2), chất tăng cường sức đề kháng, bổ gan cho tôm (Sanolife TOP S) trong vòng 7-10 ngày rồi quay lại liều dùng bình thường. tag: may suc khi
Chúc bà con nuôi tôm có vụ mùa nuôi thành công và thắng lợi.
Chào thân ái !
Nguồn: https://www.2lua.vn/article/tong-ket-mot-so-kinh-nghiem-doi-pho-dich-benh-gan-tuy-36624.html

Thứ Ba, 9 tháng 1, 2018

Công nghệ sinh học nuôi tôm sạch

Công nghệ sinh học nuôi tôm sạch

Hội thảo CNSH nuôi tôm sạch và phát triển bền vững
Vừa qua, Cty TNHH Sitto Việt Nam tổ chức nhiều cuộc hội thảo chuyên đề “Probiotic Buffet - CNSH cho ngành nuôi tôm sạch và phát triển bền vững” cho người nuôi tôm tại các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng với hàng trăm nông dân đến tham dự. tag: may thoi khi
Tại hội thảo, Thạc sỹ CNSH Phạm Minh Nhựt (Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM) trình bày về quy trình trình nuôi tôm sạch theo hướng sử dụng chế phẩm sinh học đến nông dân. Đồng thời giúp người nuôi tôm hiểu rõ về cơ chế, tác dụng, các trường hợp sử dụng và cách nhận biết một số dòng vi sinh chất lượng phục vụ trong nuôi tôm càng ngày tốt hơn.
Ông Theerapong Ritmak, TGĐ Cty giới thiệu về dòng sản phẩm vi sinh mới trong bộ Probiotic Buffet. Probiotic Buffet là sự chọn lọc, phối hợp giữa 10 chủng vi sinh khác nhau. tag: may quat nuoc
Với 5 công thức dùng xử lý nước và 5 công thức men tiêu hóa, Probiotic Buffet đáp ứng nhu cầu sử dụng của người nuôi tôm.
Mặt khác, Probiotic Buffet giúp người nuôi tôm sáng tạo công thức bí quyết riêng, dễ dàng lựa chọn, phối trộn các sản phẩm sử dụng cho từng trường hợp trong suốt vụ nuôi.
Ông Theerapong Ritmak khẳng định, Cty Sitto Việt Nam luôn luôn nghiên cứu cải thiện chi phí và nâng cao hiệu quả ứng dụng của từng sản phẩm để giúp người nuôi tôm tiết kiệm tối đa chi phí và thành công. tag: may suc khi
Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cong-nghe-sinh-hoc-nuoi-tom-sach-36635.html

Thứ Hai, 8 tháng 1, 2018

Quản lý cho ăn trong nuôi tôm thẻ chân trắng

Năng suất ao nuôi chân trắng rất cao, có thể đạt từ 15 – 20 tấn/ha, lượng thức ăn đưa vào ao nuôi trong một vụ sẽ vào khoảng 19 – 26 tấn/ha. tag: may thoi khi
Quản lý cho ăn trong nuôi tôm thẻ chân trắng
Quản lý thức ăn không tốt, ngoài việc làm chi phí vụ nuôi tăng cao, nhiều vấn đề khác liên quan đến việc biến đổi môi trường, ảnh hưởng sức khoẻ tôm nuôi và dịch bệnh sẽ nảy sinh.
Khác với tôm sú, tôm chân trắng có nhu cầu đạm (protein) trong thức ăn thấp hơn (khoảng 32-35%).
Theo thực tế khảo sát, nhiều trường hợp sử dụng thức ăn có hàm lượng protein 40 – 45% (loại thức ăn dành cho nuôi thâm canh tôm sú) thì tôm thẻ có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao với thời gian nuôi ngắn hơn (đạt 80 – 100 con/kg sau 2 tháng nuôi.
Tuy nhiên, nếu sử dụng thức ăn này, ao nuôi thường ô nhiễm cao hơn và đòi hỏi người nuôi phải có trình độ quản lý ao nuôi tốt hơn.
Bên cạnh đó, tính ăn của tôm thể chân trắng cũng khác biệt nhiều với tôm sú. Tôm chân trắng có thể ăn được liên tục trong ngày, bắt được thức ăn lơ lửng và có ăn lại phân của chính nó.
Sức ăn của tôm chân trắng cũng phụ thuộc vào hàm lượng oxy hòa tan (xem phần Oxy hòa tan), nhiệt độ…
Chính vì thế việc theo dõi, điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp hàng ngày là rất quan trọng.
CHO ĂN TRONG THÁNG NUÔI ĐẦU
Trong tháng nuôi đầu, người nuôi thường rất khó đánh giá được tỷ lệ sống của tôm và cũng không đánh giá được sức ăn của tôm chân trắng do chúng còn nhỏ.
Trên các bảng cho ăn của nhà cung cấp thức ăn thì lượng cho ăn thường khá cao vì chúng được thiết kế trong điều kiện nuôi lý tưởng, thực tế lượng cho ăn nhỏ hơn như thế.
Trong nuôi tôm chân trắng, phần lớn những trang trại quản lý thức ăn dư thừa thường rơi vào giai đoạn tháng nuôi đầu vì người nuôi suy nghĩ rằng cho ăn thiếu tôm sẽ chậm lớn và mất sức tăng trưởng, các vấn đề biến động môi trường ao nuôi, tảo lam, dịch bệnh, khí độc tích tụ cũng sẽ xuất hiện nhanh chóng ngay sau một tháng nuôi, thậm chí ngay trong tháng nuôi đầu.
Số cữ cho ăn trong ngày nên chia ra 4 – 5 cữ/ngày để giúp tôm làm quen dần với môi trường nuôi mới (trong trại giống cho ăn 08 cữ/ngày cách nhau 03 giờ).
Bảng bên dưới hướng dẫn chi tiết các cho ăn trong tháng nuôi đầu, áp dụng cho 100.000 con tôm.


Bảng cho ăn trong tháng nuôi đầu – áp dụng cho 100.000 con
CHO ĂN TRONG CÁC THÁNG KẾ TIẾP
Trong các tháng nuôi kế tiếp, việc cho ăn sẽ được thực hiện bằng cách tính toán lượng thức ăn trong ngày dựa vào tổng trọng lượng đàn tôm.
Để có thể ước lượng tổng trọng lượng đàn tôm, người nuôi cần tiến hành chài, đánh giá trọng lượng trung bình của một con tôm, ước lượng tỷ lệ sống và tính được trọng lượng bình quân của đàn tôm đang có.
Từ tháng thứ 2 trở đi, có thể cho ăn 03 – 04 cữ/ngày và không cho ăn vào ban đêm nếu như hệ thống cung cấp oxy không được đáp ứng đầy đủ. Bảng cho ăn các tháng kế tiếp như bên dưới Trong các tháng nuôi kế tiếp, việc cho ăn sẽ được thực hiện bằng cách tính toán lượng thức ăn trong ngày dựa vào tổng trọng lượng đàn tôm.
Để có thể ước lượng tổng trọng lượng đàn tôm, người nuôi cần tiến hành chài, đánh giá trọng lượng trung bình của một con tôm, ước lượng tỷ lệ sống và tính được trọng lượng bình quân của đàn tôm đang có.
Từ tháng thứ 2 trở đi, có thể cho ăn 03 – 04 cữ/ngày và không cho ăn vào ban đêm nếu như hệ thống cung cấp oxy không được đáp ứng đầy đủ.
Bảng cho ăn các tháng kế tiếp như bên dưới

Thí dụ: Ao tôm thả 300.000 giống, ở ngày nuôi thứ 50 tiến hành chài 05 chài để kiểm tra, giả sử tổng số tôm của 05 chài là 578 con với tổng trọng lượng 3,9 kg. Như vậy, 
Trọng lượng tôm bình quân là: (3.9 kg x 1.000 g): 578 con = 6,7 gam/con
Tỷ lệ sống ước lượng trung bình khoảng 90%, do đó:
Số tôm còn lại trong ao là: 300.000 x 90/100 = 270.000 con   Trọng lượng đàn tôm có trong ao là: 270.000 con x 6,7 g/con = 1.809 kg 
Vì tôm nuôi có trọng lượng bình quân 6,7 g/con như đã tính ở trên, do đó so vào bảng trên, tỷ lệ cho ăn sẽ tương ứng khoảng 4,1%. Từ đó, ta tính được:
Tổng lượng thức ăn trong ngày là: 1.809 kg x 4,1/100 = 74 kg/ngày. 
Lượng thức ăn/ngày tính được sẽ được chia làm 3 – 4 cữ cho ăn tuỳ theo ao nuôi khác nhau.
SÀNG ĂN (VÓ) 
Kỹ thuật kiểm tra sàng ăn trong nuôi tôm chân trắng khác biệt nhiều với tôm sú. Vì tôm chân trắng ăn liên tục, ăn nhanh và bài tiết nhanh khi nhiệt độ cao, …cho nên việc điều chỉnh thức ăn thông qua sàng ăn khó khăn hơn nhiều. Bên cạnh đó, nhiều trường hợp người nuôi cần phải duy trì ít nhất 01 dàn quạt hoặc 50% công suất quạt khi cho ăn, cho nên việc đánh giá sức ăn qua sàng không chính xác lắm. tag: may quat nuoc


Bảng tham khảo lượng thức ăn bỏ vó và thời gian kiểm tra
Thí dụ: Tôm nuôi có trọng lượng 9,5 g/con (tương đương cỡ 105,2 con/kg), cho ăn 9,5 kg/cữ. Vậy lượng thức ăn bỏ vào 01 vó là: 9,5 (kg) x 3 (g/kg/vó) = 28,5 g/vó 
Tôm chân trắng có vỏ mỏng và trắng trong, cho nên việc quan sát tôm ăn no hay không rất dễ dàng. Thông thường tôm ăn thức ăn công nghiệp thì có đường ruột màu nâu đen, khi thiếu thức ăn tôm sẽ ăn mùn bã, phân của chính nó, cho nên đường ruột sẽ có màu đen.
Chính vì thế, tôm chân trắng thường có đường ruột đầy và hiếm khi rỗng ruột như tôm sú, khi tôm chân trắng có đường ruột rỗng thì người nuôi nên nghĩ đến việc tôm nuôi có thể đang mắc bệnh.
Quan sát thức màu thức ăn trong đường ruột tôm sẽ góp phần đánh giá được cần phải tăng hay giảm lượng thức ăn cho lần sau

Tốt nhất nên kiểm tra đường ruột tôm khi kiểm tra vó, các trường hợp bên dưới cho thấy thiếu thức ăn (trong điều kiện bình thường) và cần phải tăng thức ăn cho lần sau:
Các trường hợp tôm còn đói khi kiểm tra vó, cần tăng thức ăn cho lần cho ăn kế tiếp. tag: may suc khi
Cần phải chú ý đến nhiệt độ và oxy hòa tan khi cho tôm ăn vì chúng có ảnh hưởng rất lớn đến tính ăn của tôm chân trắng.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quan-ly-cho-an-trong-nuoi-tom-the-chan-trang-36636.html

Chủ Nhật, 7 tháng 1, 2018

Thiết Kế Trại Nuôi

Thiết Kế Trại Nuôi
Các nguyên tắc cơ bản trong thiết kế trại nuôi tôm
   -   Phải có kênh cấp nước và kênh thải nước riêng biệt. tag: may thoi khi
   -   Phải có ao lắng nước đủ lớn (diện tích tối thiểu đạt 30% tổng diện tích ao nuôi) để cấp nước cho toàn bộ ao nuôi.
   -   Thiết kế đường nước zíc zắc cho ao lắng để tách cặn tốt nhất. tag: may quat nuoc
   -   Phải thả cá rô phi nhiều trong ao lắng và lắng nước với cá rô phi ít nhất 30 ngày mới dùng nước này cấp cho ao nuôi khi tôm được 30 ngày nuôi
   -   Phải có mương thải cho nước thải từ ao nuôi – thả cá rô phi/sò huyết trong mương thải. Chú ý sò huyết có thể thả trong mương thải nhưng không được thả trong ao lắng. tag: may suc khi


Mô hình thiết kế trại nuôi
Nguồn: https://www.2lua.vn/article/thiet-ke-trai-nuoi-36637.html